July 13, 2026

Bài dự thi “Việt Nam trong tôi”: Nhật ký chiến trường và những lá thư cũ của cha tôi

  • Thủ môn 40 tuổi đang hot nhất World Cup 2026, tăng 5 triệu lượt theo dõi chỉ sau 1 trận đấu
  • 10 mỹ nam đẹp nhất Hàn Quốc 2026: Lee Min Ho chỉ xếp thứ 6, Cha Eun Woo đứng hạng 3, ngôi vương cả đời khó ai có thể lật đổ
  • 4 cặp bạn thân nổi tiếng Cbiz ‘cạch mặt nhau’ vì yêu cùng người đàn ông, Quan Chi Lâm và Lý Gia Hân có trong danh sách còn bị mắng là ‘tiểu tam’

  • Đấy là kinh nghiệm dự báo thời tiết mà các bà, các chị làng tôi thường hay nói với nhau. Tháng bảy về thật khẽ, lòng người như lắng lại sau những cơn mưa đầu mùa hạ.

    Ngoài vườn, những bông hoa bìm bìm rung rinh theo làn gió, cạnh bờ giậu lích chích tiếng chim sâu bên những vạt sương còn vương trên lá cỏ. Căn nhà bình yên đến kỳ lạ trong nắng tinh khôi. Mẹ cắt một đóa hoa loa kèn trắng đem vào cắm trên chiếc bình gốm Chu Đậu rồi sai đứa cháu ra trước hiên nhà hái giúp bà mấy lá trầu. Mẹ ngồi têm trầu bên cánh phản bằng gỗ mun, mùi thơm của lá trầu quế lẫn vào mùi vỏ của cây chay làm cay cay khóe mắt.

    Những bức thư thời chiến. Ảnh: Bảo tàng TPHCM

    Tháng 2 năm 1964, cha tôi nhập ngũ vào tiểu đoàn C31 – D16 – S320 đóng quân tại thị trấn Chi Lê tỉnh Hòa Bình (cũ) nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Cha bảo, vẫn còn nhớ mùa khô năm 1964. Mùa khô năm ấy, đất rừng khô rang, sỏi đá lạo xạo dưới gót giày quân sự. Những tân binh trẻ trong mùa diễn tập đầu tiên, vai chưa từng đeo balo nặng cùng nhau lên đường mang theo lý tưởng cách mạng và trái tim bừng cháy ngọn lửa yêu nước. Họ khênh vác, luyện tập, cơ động liên miên qua những vùng núi non trùng điệp. Mảnh đất Chi Lê luôn có những cơn mưa rừng bất chợt, nắng cháy da, mưa thối đất, những người lính phải bò qua Dốc Cun, một con dốc khá nguy hiểm với nhiều khúc cua, vách núi và vực sâu. Dốc Cun – Hòa Bình nối với các huyện Kim Bôi, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu là tuyến đường huyết mạch, điểm nóng trong thời kỳ chiến tranh chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước.

    Sau khi hoàn thành khóa huấn luyện. Năm 1966 cha tôi được điều động về đơn vị huấn luyện thông tin C7 – D16 – Quân khu 3. Là một người lính thông tin, nối liền mạch chiến trường bằng dây điện thoại, bằng tín hiệu điện đài giữa bom đạn ngút ngàn, cha tôi và đồng đội nhiều đêm phải ngủ trong rừng lạnh dưới tấm tăng rách. Bò dưới họng súng của địch để nối dây thông tin bị đứt, bàn tay rớm máu qua những hàng rào dây thép gai. Những người lính thông tin chiến trường luôn phải bảo đảm liên lạc giữa các đơn vị qua các máy rung. Đôi khi chỉ kịp nghe tiếng “Rõ, hết” qua máy điện thoại, nhưng đó là sự sống còn trong từng trận đánh. Nhiều lần cha tôi đã tưởng không thể trở về, lạc rừng, sốt rét, những kí ức đầy máu và nước mắt trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

    Nhật ký thời chiến. Ảnh: Vĩnh Long Online

    Cuộc chiến chống Mỹ cứu nước lúc bấy giờ vô cùng khốc liệt. Trên lưng mỗi người lính ngoài khí tài là các phương tiện kỹ thuật nhằm bảo đảm kịp thời thông tin liên lạc, điện đàm với bộ đội công binh, pháo binh và pháo phòng không. Nhiều lần nghe cha kể về những năm tháng vượt núi cao, rừng rậm, suối sâu để chuyển và nhận những bức điện từ sở chỉ huy, đặt mạng lưới thông tin liên lạc sao cho vừa đảm bảo bí mật vừa thông suốt vô cùng khó khăn, gian khổ. Cha nói, chỉ có những người lính vào sinh ra tử mới hiểu thấu cái giá của hòa bình và chỉ những người lính trong cuộc chiến mới mong mỏi hòa bình hơn bất cứ ai, bởi họ là những người trực tiếp cầm súng chiến đấu.

    Nhiều đồng đội của cha nhiều người đã hy sinh anh dũng trong chiến trường Đường 9 – Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, Cồn Cỏ, Gio Linh, Triệu Phong những năm 1968 – 1972. Những loạt bom bất ngờ, những trận sốt rừng dai dẳng đã cướp đi nhiều người đồng đội và đều được cha ghi chép lại trong cuốn sổ tay mà cha gọi là “Nhật ký thông tin chiến trường 1966 – 1973″.

    Cha ngồi sưởi nắng trước hàng cau, bóng cha đổ dài trên sân gạch, mái tóc cha đã bạc trắng theo năm tháng, đôi bàn tay đầy vết đồi mồi loang từng đốm nhỏ. Cách đây vài năm, nhìn đôi bàn tay gầy guộc của cha lần giở những kỷ vật chiến trường còn sót lại sau ngày giải phóng miền nam như những báu vật lòng chợt rưng rưng thổn thức. Cha lấy từ hòm đạn cá nhân ra một chiếc võng dù, chiếc ống nhòm cũ kỹ, một đôi quân hàm đã bạc phếch màu thời gian, một cuốn sổ ghi chép trong chiến trường, chiếc bi đông đựng nước bằng nhôm, bức ảnh đen trắng chụp cùng đồng đội đã ố vàng, bong tróc và đặc biệt một con chim chích bông nhỏ được khâu từ mảnh vụn chiếc tăng và nhồi bông rất khéo để tặng chị gái tôi trong những ngày cha nằm dưỡng thương trong trạm phẫu. Đó là tất cả những kỷ vật của cha tôi sau ngày chiến thắng. Những đồng đội của cha trong bức ảnh bây giờ người còn, người mất, có những người đã ngã xuống trong cuộc chiến và mãi mãi nằm trong lòng đất mẹ, những người đã hy sinh xương máu và một phần cơ thể cho ngày thống nhất đất nước. Đó là những ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt trong lòng người chiến sĩ như cha tôi và những người may mắn được trở về.

    Chiến tranh qua đi, hòa bình được lập lại, cuốn nhật ký chiến trường và những lá thư cha tôi viết vẫn được mẹ gói ghém thật kỹ càng bằng những lớp ni lông và để trong vỏ chiếc hòm đạn cha mang về như một kỷ vật còn sót lại của người lính thông tin. Chiếc hòm gỗ hình chữ nhật để trên gác xép, năm 2007 thì bị mối mọt xông vào gặm nhấm hết bộ quân phục, chiếc võng dù và cả những lá thư. Cha bần thần mất mấy ngày, riêng tôi vẫn nhớ những lá thư đã úa vàng, có những lá thư đã nhạt nhòa nét mực, có những con tem đã bạc phếch màu thời gian và cũ kỹ.

    Còn sót lại một vài lá thư cha tôi viết “Binh trạm thông tin 1971 – Mai em ! Anh đang cùng đồng đội hành quân… Chiến tranh đang bước vào thời kỳ ác liệt nhất, nhưng anh tin một ngày gần đây chiến tranh sẽ kết thúc, anh và đồng đội sẽ trở về…”; hoặc “Ninh Bình mùa khô năm 1969. Đêm qua mưa rừng, sốt cả đêm lúc nóng, lúc lạnh. Không biết ba hôm nữa có khỏi không? 28 tháng 11 này cả đơn vị phải di chuyển đến địa bàn mới. Hôm qua anh Việt tiểu đoàn trưởng quê Tuy Lai đã thông tin cho mình. Tất cả phải sẵn sàng, mình cũng đã quyết định rồi, dù khó khăn bom rơi, đường lấp, pháo nổ mình vẫn cứ đi”; “Thứ sáu 17/2/70. Đơn vị đã hết gạo và sắn. Còn một ít lương khô dự phòng cho anh em thương binh trạm phẫu. Mọi người phải ăn rong riềng non xin trong làng”.

    Chiến tranh là đau thương mất mát, chiến tranh có thể hủy diệt cuộc sống, nhưng rõ ràng chiến tranh không thể hủy diệt được ý chí con người và những lá thư tay. Đâu đó trong những bảo tàng quân sự vẫn còn những lá thư úa vàng, cháy dở, những lá thư được viết trên trang sổ tay xé vội, trên vỏ bao thuốc lá Trường Sơn, những lá thư làm an lòng những người vợ, người mẹ ở hậu phương. “Anh ra đi, có hy sinh tính mạng vì Tổ quốc thì em cũng phải can đảm, bớt đau khổ, đừng khóc lóc, buồn nản. Hãy thay anh dạy dỗ con. Giọt máu đầu tiên cũng là giọt máu cuối cùng…”.

    Đã đi qua 80 mùa thu cách mạng (2/9/1945 – 2/9/2025) nhưng cha tôi và những người lính vẫn tươi nguyên màu kí ức và tự hào là lính thông tin. Cha tôi, Đinh Minh Kỳ – 60 năm tuổi Đảng; quê quán Thôn An Duyệt; xã Hùng Tiến; huyện Mỹ Đức – Hà Nội. Nay thuộc xã Hương Sơn – thành phố Hà Nội. Tôi tự hào có cha là một người lính.

    Lời tác giả: Những lá thư của cha tôi đã đi qua thời gian 61 năm và hiện nay không còn nữa. Những thông tin về tiểu đoàn, đơn vị, quân khu đều đã được cha tôi kiểm chứng. Hiện nay ông vẫn còn sống và minh mẫn tại Hương Sơn – Hà Nội.

    Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh, Báo NTNN/Điện tử Dân Việt tổ chức cuộc thi viết Việt Nam trong tôi, nhằm tạo một bức tranh đa sắc về hành trình 80 năm của đất nước – từ ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến một Việt Nam hòa bình, vươn mình mạnh mẽ hôm nay.

    Xem Thể lệ cuộc thi tại đây.

    ×


    Speak Your Mind

    *

    (x)
    (x)
    Khám phá thêm + Cho Dien Tu + Mua Hang Online Uy Tin + Mua Hang Online + Nguoi Noi Tieng + Nguoi Dep Viet Nam + Idol Viet Nam + Nghe Si Viet + Tin Tuc Sao Viet + Thuong Hieu Ca Nhan + Nguoi Noi Tieng Phim + Kiem Tien Tren Mang + Han Duc Hai + Dang Rao Vat + Trang Rao Vat