Những điều ít biết về Hầm Cơ yếu – Bộ Tổng tham mưu
Sáng nay (18/8) tại Khu Di sản văn hóa Thế giới Hoàng thành Thăng Long đã diễn ra lễ khai mạc các hoạt động trưng bày kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, nội dung trưng bày bao gồm:
– Nhà và Hầm D67 – Hành trình đến ngày toàn thắng
– Phát huy giá trị di tích cách mạng Hầm Cơ yếu – Bộ Tổng Tham mưu
– Kỳ Đài/Cột Cờ Hà Nội – Tổ Quốc và khát vọng hòa bình


Trong đó, Hầm Cơ yếu – Bộ Tổng Tham mưu được khởi công xây dựng vào ngày 10/2/1966, hoàn thành 30/6/1966, trên lối lên xuống còn nhìn rõ dòng chữ khắc thời gian xây dựng và thời gian hoàn thành.
Chia sẻ với Dân Việt, đại diện Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội cho biết, Hầm Cơ yếu – Bộ Tổng Tham mưu có 2 cửa, 1 cửa hướng Tây, một cửa quay về phía Nam. Hầm sâu khoảng 4-5m, có 03 phòng (02 phòng làm việc, 01 phòng đặt trang thiết bị). Hầm được đúc bằng bê tông cốt thép nguyên khối, nóc hầm nhô lên khỏi mặt đất, được chia làm ba lớp, giữa đổ cát dày nửa mét.
Cửa hầm bằng thép tấm 2 lớp, chống được sức ép nguyên tử và tia phóng xạ cũng như hơi độc. Trong hầm có hệ thống điều hòa nhiệt độ bằng hơi nước và thông hơi, lọc độc, chống nhiễu từ…. Hầm có hệ thống đèn thắp sáng, đường điện chìm. Có thể bố trí được một ca từ 10-15 người làm việc cùng một lúc. Căn hầm này được sử dụng chủ yếu cho các ca trực khi máy bay Mỹ ném bom đánh phá.
Hầm Cơ yếu – Bộ Tổng tham mưu là nơi trú ẩn tránh bom và làm việc tạm thời của cán bộ, chiến sĩ, nhân viên phòng Mã dịch, Cục Cơ yếu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là di tích cách mạng cùng với Nhà và Hầm Quân uỷ Trung ương (D67) và Hầm Chỉ huy tác chiến (T1) đã được đưa vào hoạt động, tạo thành một hệ thống hầm ở Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội.

Theo BTC, sau khi xây dựng, căn hầm này được bố trí hệ thống máy móc, vật chất sẵn sàng phục vụ Thủ trưởng cơ quan, trực chỉ huy, trực chiến xuống làm việc trong điều kiện cần thiết.
Trong những khoảng thời gian không quân Mỹ đánh phá miền Bắc, trực tiếp ném bom Hà Nội (1966-1968), đặc biệt là cuối năm 1972, hoạt động của Phòng Mã dịch, Cục Cơ yếu phần lớn được thực hiện dưới hầm. Những tài liệu, công văn, báo cáo đến, các bức điện chỉ đạo phát đi khắp chiến trường, quân binh chủng vẫn được luân chuyển liên tục, trực tiếp góp phần giữ vững sự lãnh đạo, chỉ huy của Tổng Hành dinh, giúp Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương điều hành, chỉ đạo chiến tranh hiệu quả.
Chính các nhà quân sự phương Tây đã ngạc nhiên thấy cơ quan đầu não tại Hà Nội vẫn vững vàng đương đầu với không lực Hoa Kỳ, vẫn có thể nắm bắt, xử trí mọi tình huống và phát đi các mệnh lệnh nhanh chóng, kịp thời, chính xác hơn trước.
Các hiện vật trưng bày tại Hầm Cơ yếu – Bộ Tổng Tham mưu
Theo nhân chứng lịch sử bà Vinh (Ban D – Ban Điện báo), bà Yểng (Ban D, Phòng Hành chính), ông Nguyễn Văn Khôi (Trợ lý kỹ thuật quản lý hầm tài liệu)… thì Hầm Cục Cơ yếu dùng để làm việc và trú ẩn trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Đặc biệt là những năm chiến tranh phá hoại, khi không có máy bay thì làm việc trên nhà Cục Cơ yếu, khi có máy bay thì xuống hầm trú ẩn làm việc.
Trên nhà làm việc, các ban đều có sẵn các tấm bạt dài 2m rộng 1m6 may gắn các túi để đựng các Sa tô và Luật từ điển của các quân khu. Còn khi xuống hầm làm việc thì có sẵn mỗi quân khu đựng trong một thùng tôn có đầy đủ dụng cụ, công cụ để làm việc như Sa tô, Luật từ điển, bút chì, bút máy, thước, cục chặn. Sau giải phóng Hầm Cục Cơ yếu được sử dụng làm hầm đựng tài liệu, dưới hầm kê các giá đựng các hòm tôn đựng tài liệu mật.
Theo quy định tài liệu hết thời gian giải mật sẽ được mang đi tiêu huỷ bán giấy vụn bằng cách mang ra nhà máy giấy Trúc Bạch ở Thụy Khuê bán. Cán bộ được giao nhiệm vụ đi bán cần đợi nhân viên nhà máy ngâm nước bóp vụn, băm nhỏ thành vụn giấy rồi mới được về.
Đồng hồ dùng để xem giờ để làm các công việc chuyên môn và ghi giờ vào sổ nhận và chuyển tài liệu. Thông thường được dùng cho tổ trưởng, ban trưởng và Ban Điện báo. Mỗi điện sau khi mã hóa hoặc mã dịch xong thì được chuyển về Ban Điện báo. Cán bộ điện báo xem, kiểm tra rồi ghi tên người mã, ngày giờ mã… rồi đưa liên lạc chuyển đi.
Những năm Mỹ đánh phá miền Bắc, các cán bộ Cơ yếu làm việc suốt ngày đêm. Ca trực từ 17h chiều tới 7h sáng ngày hôm sau.
Đặc biệt trong suốt 12 ngày đêm cuối năm 1972, đại bộ phận đi sơ tán, những nhân viên Mã dịch chiến trường Miền Bắc (Ban A) ở lại làm việc suốt ngày đêm dưới hầm. Mệt nghỉ chút rồi lại làm việc. Mất điện, đêm lại không được phát máy nổ mà thắp đèn dầu (đèn bão) để mã hóa, mã dịch các bức điện, sáng hôm sau lên khỏi hầm nhìn mặt ai cũng như hề, hai lỗ mũi ám khói đèn đen xì.

Đèn bão được sử dụng trong Hầm Cơ yếu – Bộ Tổng Tham mưu trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Sau năm 1975, đồng chí Nguyễn Văn Khôi – Trợ lý kỹ thuật, quản lý hầm tài liệu và thấy 2 đèn bão cũ, cần thay thế đồng chí đã mang lên sử dụng ở nhà Cục Cơ yếu phòng khi mất điện. Năm 2019, đồng chí đã bàn giao cho Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long bảo quản trưng bày và phát huy giá trị.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Cục Cơ yếu đã chỉ đạo Phòng Mã dịch khẩn trương củng cố hệ thống kỹ thuật mật mã, lực lượng cán bộ, nhân viên. Từ năm 1962 đến năm 1965, số lượng đầu mối liên lạc của Phòng Mã dịch – Điện báo tăng lên nhanh chóng từ 112 lên 370 đầu mối.
Số lượng luật mật mã đưa vào sử dụng là hơn 50 loại khác nhau. Phòng đã bố trí, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, từng cá nhân và tổ chức hiệp đồng liên lạc chặt chẽ với các tổ chức Cơ yếu miền Nam và trong toàn quân; trực tiếp mã hóa, giải mã các bức điện chỉ đạo, chỉ huy các cấp đánh bại các chiến thuật “Thiết xa vận” “Trực thăng vận” cũng như các kế hoạch phản công mùa khô của đế quốc Mỹ.
Phòng Mã dịch chia thành 4 ban: Ban A – Phục vụ mã hóa, mã dịch điện toàn chiến trường miền Bắc; Ban B – Phục vụ mã hóa, mã dịch điện toàn chiến trường miền Nam và Campuchia (Ban này đông nhân viên vì chiến trường rộng); Ban C – Phục vụ mã hóa, mã dịch điện chiến trường Lào; Ban D – Ban Điện báo là Ban tiếp nhận Điện đến và chuyển Điện đi.
Sa tô (khoá loạn) và Luật từ điển là công cụ dùng để mã hóa và giải mã các điện đi điện đến trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Mẫu điện mật đến, điện mật đi từ trước 1975 cho đến nay không có gì khác về nội dung in sẵn, chỉ khác kiểu chữ và có màu đen hoặc màu đỏ. Điện mật đến đặc biệt được in màu đỏ có thêm nội dung khác với mẫu điện mật đến thông thường đó là “Chuyển nhận trực tiếp không bỏ ngỏ, không hỏi và trả lời bằng điện thoại, điện rõ. Không sao chép lưu trữ. Không phổ biến người không có trách nhiệm. Giải quyết xong, trả lại Cơ yếu ngay”.
Điện mật đi là các chiến sỹ mã dịch dùng kỹ thuật mật mã căn cứ vào Sa tô và Luật từ điển để mã hóa điện rõ ra tờ điện mật đi, rồi vào sổ, sau đó chuyển sang Ban điện báo kiểm tra, vào sổ, đóng dấu, niêm phong và đưa liên lạc chuyển sang Thông tin chuyển đi.

Điện mật đến là Điện báo nhận từ Thông tin rồi xem, vào sổ, phân chia về các ban mã dịch. Cán bộ mã dịch dùng kỹ thuật mật mã căn cứ vào Sa tô và Luật từ điển mã dịch thành điện rõ lên tờ Điện mật đến rồi vào sổ sau đó chuyển lại Ban Điện báo xem, vào sổ. Cần thiết phải sao ra thì Điện báo sẽ đánh máy sao ra nhiều bản rồi đóng dấu đưa liên lạc chuyển đến nơi nhận.
Có những bức điện khẩn, chỉ định người dịch thì Trưởng ban Mã dịch nhận từ Ban điện báo sẽ chỉ định người dịch. và ngoài người dịch và trưởng ban được xem thì người khác không được biết, không được hỏi.
Các cán bộ mã dịch thực hiện công tác mã hóa mã dịch dùng kỹ thuật mật mã để mã các bức điện thường làm việc theo tổ hai người cho nhanh. Người đọc, người viết gọi là vi cô.

Các con dấu được sử dụng trong Cục Cơ yếu được cán bộ Ban Điện báo và Phòng hành chính sử dụng. Phòng Hành chính nằm ngoài Khu A Bộ Quốc phòng. Mỗi bức điện hay công văn sau khi Ban tiếp nhận tin tức (Ban Điện báo – Ban D) sẽ phân phối về nơi xử lý.
Nơi nhận sau khi xử lý xong công việc, tùy nội dung công văn, điện… sẽ trình lãnh đạo, Thủ trưởng quyết định và tập trung ở Ban Điện báo đóng dấu rồi chuyển đi. Người viết tin tức tùy theo mức độ khẩn cấp sau khi đã báo cáo Thủ trưởng quyết định mà đóng dấu vào công văn, giấy tờ, các bức điện… sẽ được đóng dấu Khẩn hay thượng khẩn, tối khẩn trước khi liên lạc chuyển đi. Điện mật đi thì đóng dấu: Khẩn, Thượng khẩn, Tối khẩn, Mật, Tối mật, Tuyệt mật, Niêm phong.
×































Speak Your Mind