Tuổi thơ của tôi là những ký ức về ngày tháng trên lưng trâu, nô đùa tại bãi sông với triền đê Thái Bình, trên đồng cỏ, là những lần thưởng thức chuột đồng nướng rơm thơm vàng, béo ngậy, là những trò chơi chọi gà, bắt bóng, và cũng không ít lần được ăn roi quất vào chân khi ham chơi về muộn, là những kỷ niệm trèo cây tập nhảy xuống sông mà không biết bơi, uống no nước và chuồn chuồn cắn rốn vì nghe nói sẽ tập bơi được… Mỗi kỷ niệm ấy lại xắt vào lòng tôi, vừa vui, vừa nuối tiếc, có cả xót xa, ân hận vì nhiều lần làm bố mẹ phiền lòng. Trong những dạt dào cảm xúc của ký ức đó, hình ảnh bố luôn là điều khiến tôi vừa tự hào, ngưỡng mộ.

Những năm tôi còn nhỏ, đất nước vừa trải qua Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với công cuộc đổi mới, còn in trong tiềm thức của bao người Việt Nam về bài báo “Những việc cần làm ngay”, của đồng chí Tổng bí thư với bút danh quen thuộc N.V.L. Hồi ấy, tôi là một cô bé mới đi học lớp i tờ, nghĩa là chập chững bước vào lớp học trước tiểu học. Đường đất trơn, trường dựng tạm cách nhà 3km, hằng ngày, bọn trẻ chúng tôi chỉ một cuốn vở cuộn tròn với chiếc bút chì, đến năm lớp 2 thì thay bằng bút quản, chấm mực tím, mỗi ngày lại rủ nhau đi bộ qua cánh đồng làng để đến trường.
Lúc đó, bố vừa công tác xã, vừa cùng mẹ tham gia lao động sản xuất tại địa phương để nuôi hai anh em chỉ hơn nhau một lớp. Tôi không hiểu được mẹ đã vất vả như thế nào khi một mình phải be bờ, tát nước, gieo mẹ, cào cỏ, gánh phân ra đồng bón lúa, rồi chăm sóc đến khi gặt… Tôi vẫn hồn nhiên như tuổi thơ của mình. Buổi tối, sau khi hai anh em ngồi quanh cây đèn dầu tù mù (mà với chúng tôi đó là thứ ánh sáng chiếu cho cả gia đình) để học bài, thì khi vui nhất là được cùng bố trải chiếu cói ra sân nằm hóng mát. Bố vừa phe phảy chiếc quạt mo (bà ngoại tôi khéo léo cắt từ những chiếc mo cau khô rụng xuống sân bà, ép phẳng dưới chiếu một thời gian), vừa đưa tôi đến với thế giới kỳ diệu của mình. Qua giọng kể trầm ấm, tôi như lạc vào những giấc mơ. Nhưng tôi đặc biệt say mê những câu chuyện chiến trường của bố.

Bố tôi – một người lính từ chiến trường trở về trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Ông nhập ngũ tháng 5.1972, thuộc đơn vị E273 F314 QK4 (tỉnh Quảng Trị). Bố kể về những ngày hành quân gian khổ nhưng đầy niềm vui, bố nói về mỗi tiểu đội lại chia thành các tổ 3 người (gọi là tổ tam tam), các chiến sĩ trong đơn vị của bố vừa lạc quan, yêu đời, lại luôn mưu trí, dũng cảm. Bố kể về những trận đánh tại Quảng Trị mà khi ấy, chứng kiến đồng đội bị thương, ngã xuống, bố và các đồng đội đã phải trải qua sự đau đớn, xót xa nhất, mà vì nhiệm vụ hành quân cũng không thể ở lại lâu. Mỗi khi kể về đồng đội, nghe giọng bố rưng rưng, trào dâng nỗi xúc động ghê gớm.
Tôi nằm bên bố, cánh tay ôm ngang người, thói quen chạm ngón tay non nớt vào “con rết” dài ở sườn bên trái. Bố vẫn thường gọi vui như vậy, bố bảo đây là con rết bố bắt được ở chiến trường. Sau này tôi mới biết đó là một trong 3 vết thương do trúng đạn kẻ thù khi bố chiến đấu tại Quảng Trị. Bố không kể về những đau đớn của bản thân, bố chỉ nói rằng bản thân mình may mắn hơn rất, rất nhiều đồng chí của bố, các bác, các chú bị thương nặng hơn nhiều, người mất cả cánh tay, người phải cưa chân, người bị hỏng mắt… và đau đớn nhất là những người không bao giờ có thể trở về. Bố luôn nói rằng, bố nợ các đồng đội ấy, bố nói, mình may mắn còn sống trở về, phải sống thật tốt, cho xứng đáng với sự hy sinh của đồng đội. Tôi còn bé cũng không thể hiểu hết về những đau đớn khi trái gió trở trời, vết thương trên người bố lại “thức dậy”, vì bố không bao giờ kêu một tiếng. Tôi chỉ biết khi mẹ kể sau đêm trời chuyển gió mùa, là bố đau không ngủ được, cả đêm trằn trọc, trở mình, nằm chán lại dậy, khẽ mở cửa ra ngoài hiên, ngồi chán lại vào nằm… cứ như vậy đến sáng.

Bố kể rằng, ngày 30 tháng tư năm 1975, bố cùng với đoàn xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập. Buổi sáng, chiếc xe của bố dẫn đầu, khi qua cầu Sài Gòn thì bà con đổ ra hai bên đường rất đông, xe không thể đi tiếp, bố cùng các đồng chí của mình phải dừng lại, vận động bà con đứng gọn lại, mở đường cho xe đi. Sau đó, xe tăng 390 của bác Nguyễn Văn Tập (quê Gia Lộc) húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập, trở thành niềm tự hào của cả nước. Tôi còn nhớ lúc đó rất hồn nhiên nói với bố: “Tiếc quá bố nhỉ, lúc ấy mà đường không nghẽn thì xe bố đã vào Dinh đầu tiên rồi”. Bố cười: “Chiến công chung mà con gái yêu! Đã là đồng chí là cùng chí hướng, niềm tự hào của cả Quân đội Việt Nam anh hùng. Dù bố hay bất cứ ai cũng vậy”.
Bố nói, sau ngày giải phóng, bộ đội miền Bắc còn ở lại Sài Gòn, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ “Dân vận”, nghĩa là cùng làm công tác tư tưởng đối với đồng bào miền Nam, để cùng hiểu và thấy được sự thống nhất về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Trong kí ức của tôi, bố lúc nào cũng sống mẫu mực. Còn nhớ, những năm tôi học tiểu học, nhà chật, mái lá mỗi năm lợp lại một lần bằng rơm, mưa to lại dột lỗ chỗ. Khi đài báo bão, bố chằng buộc cột nhà, và khi bão về, gió giật, bố bảo hai anh em chui xuống gầm giường để tránh.
Bếp dựng ở cạnh bở giếng, nhỏ nhưng luôn gọn gàng. Để rèn cho anh em tôi nếp sống ngăn nắp, bố viết dòng chữ lên bức tường ngay trước mặt, chỗ bếp đun “Gọn gàng sạch sẽ, làm đâu gọn đấy, đứng dậy sạch ngay”. Dòng chữ in vào tâm trí chúng tôi để mọi việc đều chú ý. Bố dạy từng việc nhỏ nhất, như khi đưa dao, kéo cho người khác phải luôn nhớ cầm đằng mũi, lưỡi, để người nhận cầm đằng chuôi, như vậy hai bên đều an toàn; khi đặt dao, phích nước, phải đẩy vào giữa bàn hoặc góc trong để nếu có ai đi qua không may gạt vào thì cũng không bị đổ… Tôi biết tất cả những điều đó, bố được rèn trong quân đội, với tác phong của người lính cụ Hồ.
Tôi đã lớn lên bằng những câu chuyện kể của bố về chiến tranh, về đất nước, về những vùng đất bố đã từng đi qua. Không chỉ có vậy, thế giới của tôi còn là những tác phẩm kinh điển được nghe mỗi tối. Nào là trận Xích Bích giữa Tào Tháo và liên minh Thục và Ngô với tài mưu lược tuyệt vời của quân sư Gia Cát Lượng trong Tam quốc diễn nghĩa; nào là Tiết Linh Sơn, Tiết Linh Quý trong Chinh Đông Chinh Tây; nào là Trạng Quỳnh, Chú bé tí hon với cả sê ri nghe mãi chưa hết phần một, có đoạn đang kể thì tôi ngủ quên mất, bố lại bế vào giường. Trong giấc mơ, có lẽ tôi vẫn đang bay cùng những câu chuyện kể…
Bố trong mắt tôi là một người hoàn hảo, như một cuốn “bách khoa toàn thư”, mà sau này khi công nghệ thông tin phát triển, tôi gọi bố như “Anh Google – cái gì cũng biết”. Bố hát hay, đánh đàn giỏi, biết chơi nhiều nhạc cụ. Tôi thấy bố biết thổi sáo, chơi măng đô lin, ghita, cả accordion – một nhạc cụ bố mang từ miền Nam về. Mỗi khi bố cất tiếng hát, là cả những bản hùng ca tuyệt vời. Tôi thuộc lòng những ca khúc “Chào em cô gái Lam Hồng”, Xuân chiến khu”, “Bài ca Trường Sơn”, “Tiếng đàn Ta lư”. Thuộc từng lời, từng giai điệu, và tôi cũng hay bắt chước bố ngân nga các bài hát đó. Mỗi khi nghe tôi hát, bố lại cười “Giọng này chỉ gọi là đúng nhạc thôi, chứ yếu lắm, chẳng có hơi gì!”. Thi thoảng, tôi cũng đứng trước gương, tập lấy hơi rồi bắt đầu “Ơi biển cả bao la, ơi những bến bờ xa, con sóng đưa ta đến miền biển lạ. Mây đổi sắc qua, mùa đông mùa hạ. Biển nông sâu, soi bóng những con tàu”.

Bố đã đưa chúng tôi lớn lên qua những năm tháng khó khăn nhất của quê hương, gia đình. Nói như mọi người, bố công tác xã hội chẳng khác nào “Người thổi tù và hàng tổng”, nghĩa là mười mấy năm bố làm ở UBND nhưng không có lương về cho mẹ, bởi theo bố nói, đất nước còn khó khăn, địa phương cũng thế, cứ cống hiến, cứ làm việc bằng trách nhiệm của mình. Ngày đó, bố đi họp ở mãi trên Gia Lộc, vì huyện cũ chưa tách là Tứ Lộc (sau này tách thành Tứ Kỳ và Gia Lộc – trước khi sáp nhập, bỏ cấp huyện) – đường khó đi, xa hơn 20km, xe đạp Thống Nhất được lắp lại, tuần nào cũng 3,4 lần bố lọc cọc đạp xe đi họp từ sáng đến chiều. Tôi ngóng bố không khác gì mong mẹ về chợ, vì lần nào bố về cũng sẽ có quà, từ trong giỏ xe sẽ là cái bánh rán làm thủ công từ khâu xay bột, lọc qua loa bọc trong giấy báo cũ, có khi là vài ba chiếc kẹo dừa thương hiệu Bến Tre, thứ kẹo gói trong mẩu giấy, thêm một lớp đa nem mỏng tang… chỉ thế thôi mà khiến anh em tôi sung sướng lắm.
Những năm anh em tôi học Đại học, bố mẹ mới thật sự vất vả. Nhà làm ruộng, thấy mẹ một mình gồng gánh, bố đã nghỉ công tác để cùng mẹ tập trung nuôi chúng tôi. Bố mẹ làm ảnh chân dung trên đá, khắc bia, mộ… Bố có năng khiếu vẽ trên các chất liệu nên ngày ấy khách đặt hàng rất đông. Bố mẹ cặm cụi quanh năm để có tiền gửi cho chúng tôi đều đặn mỗi tháng 200 đến 300 000đ. Biết tôi say xe ô tô, phải đi tàu hoả, nên mỗi lần tôi về quê, bố lại đưa đón tôi lên ga tàu và từ ga về nhà. Có lần, vì tính sai giờ tàu chạy, khi hai bố con lên đến ga, tàu chạy được 10 phút. Bố bảo tôi đi ô tô lên Hà Nội vì bố phải về họp, nhìn mặt tôi nhăn nhó, mếu máo “Con không muốn đi ô tô”, một chút đắn đo rồi bố quyết định chở tôi lên tận Hà Nôi, sau đó quay về ngay để kịp giờ họp. Điều ấy là khiến tôi áy náy đến tận bây giờ…
Cho đến tận giờ, khi tôi đã trưởng thành, có công việc tại địa phương, bố cũng đã ngoài 70 tuổi, tôi thấy bố vẫn mẫu mực như xưa. Bố vẫn giản dị trong lối sống, tận tình với mọi người, sống tình cảm, quan tâm đến gia đình, nội ngoại. Trong con người bố, tôi thấy có một phần vô cùng thiêng liêng dành cho đồng chí, đồng đội, cũng như khắc sâu một thời quá khứ oanh liệt, nơi bố cùng các bác vào sinh ra tử nơi chiến trường ác liệt. Bố tham gia với các đoàn thể Cựu chiến binh, Ban liên lạc Bộ đội Trường Sơn, Hội thương binh, Hội Nạn nhân chất độc da cam Dioxin… Ở đâu, tôi cũng thấy bố nhiệt tình, trách nhiệm, hết mình với đồng đội.

Những ngày này, cả đất nước vươn mình trong cuộc cách mạng sắp xếp lại bộ máy, để cho một Tổ quốc Việt Nam phát triển thịnh vượng, bố vẫn bình dị trong căn nhà nhỏ, hằng ngày đọc sách báo, xem tivi, nắm tin tức của đất nước, bố dõi theo từng cuộc họp từ Trung ương đến địa phương. Bố không chỉ nắm bắt mà còn trở thành tuyên truyền viên tích cực cho đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Chính phủ. Bố nói với các cháu nội, ngoại về những đúng đắn trong chiến lược của Nhà nước, động viên các cháu tích cực học tập thật giỏi, cháu nào có thành tích trong học tập, ngoan ngoãn, ông đều động viên, khích lệ…
Đối với tôi, Tổ quốc là bố của mình, từ bố, tôi thấy được cả đất nước với tất cả niềm tự hào, tin tưởng. Bố là hình ảnh người lính Cụ Hồ kiên cường trong chiến tranh, giản dị, khiêm nhường trong lối sống. Cả cuộc đời bố luôn tâm niệm “Trọn nghĩa nước non, vẹn tình đồng đội”. Trong căn nhà nhỏ ấm áp vào mỗi cuối tháng, vẫn nghe tiếng bố cùng các bác trong Hội Cựu chiến binh đọc thơ, kể chuyện, ôn lại kỷ niệm chiến trường. Tôi cứ miên man trong nỗi xúc động, bồi hồi, lòng tự hứa với mình, phải không ngừng cố gắng trong cuộc sống, công việc, để các thế hệ cha ông như bố, như các bác, các chú tự hào. Hãy tin tưởng vào chúng con, bố nhé!
×































Speak Your Mind