Giáo sư nói: “Anh Nông Trung trước đây là cán bộ nghiên cứu của Viện tôi. Anh là một người đức độ, có nhiều triển vọng trở thành một nhà khoa học.”
Khi thành lập tỉnh Hoàng Liên Sơn (1976), Nông Trung là Phó trưởng ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, sau đó là Phó Giám đốc, rồi Giám đốc sở Văn hóa – Thông tin (VHTT) kiêm Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ. Hồi đó tôi là giảng viên Trường Đảng tỉnh. Ông trưởng Khoa Triết học bảo tôi: “Trong chương trình ngoại khóa của lớp Trung cấp, anh nên sang sở VHTT, mời một chuyên gia nói chuyện về dân tộc học”.
Hôm sang Sở, tôi phải leo một cái dốc khá dài. Gặp nhạc sĩ Thanh Bình, ông chỉ lên cái đồi trọc và bảo: “Cậu sang Sở thì phải leo hết cái dốc … “Khổ” này!”. Tôi chưa từng gặp Nông Trung, mới “văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”! Được người ta chỉ phòng làm việc của Giám đốc, tôi bước đến dãy nhà cấp bốn. Mới cách cửa phòng làm việc độ 20 mét đã nghe tiếng gọi: “Dương ơi, vào đây!”. Tôi rất ngạc nhiên, vì chưa từng diện kiến, mới điện thoại hẹn sang làm việc, thế mà anh đã gọi như thể người thân! Vào phòng, anh chỉ ghế cho tôi ngồi rồi rót nước. Tôi bảo: “Anh chưa gặp em bao giờ mà sao hôm nay từ xa, anh đã nhận ra?”. Thay cho câu trả lời, anh nói: “Này, cậu làm cái bếp đẹp thế !”… Hóa ra, anh đã từng đi hết 4 thị xã, 16 huyện của cả một cái tỉnh lớn mới sáp nhập từ 3 tỉnh cũ (1). Vợ tôi làm nhân viên Phòng VHTT Bảo Thắng. Bấy giờ còn chế độ bao cấp, cuộc sống thế nào ai chả biết… Xuống huyện, anh đi thăm từng nhà nhân viên ở khu tập thể, thậm chí chui cả vào bếp xem có gạo nước, rau cỏ, mắm muối gì không, rồi đi kiểm tra cả khu vệ sinh nữa!”. Vì thế anh mới biết cái bếp của nhà tôi vừa làm. Tôi bảo: “Em có làm được gì đâu, nhà em làm đấy”. Anh cười: “Cậu nghỉ hè về làm đấy chứ?”…
Tôi đặt vấn đề: “Thưa anh, bên em đang có lớp Trung cấp chính trị. Bộ môn Triết học của em cần có buổi ngoại khóa về Dân tộc học gắn với thực tiễn tỉnh nhà. Em sang nhờ anh cử một chuyên gia nói chuyện cho lớp”. Nghĩ một lát, anh hỏi: “Thế tớ sang có được không?”. Tôi rất ngạc nhiên: “Thế thì còn gì bằng. Chỉ sợ anh bận việc quản lý nên không dám mời trực tiếp anh. Vậy thay mặt Khoa, em cám ơn anh trước!”.

Cuộc nói chuyện ngoại khóa vào buổi tối. Lúc chiều tôi gọi điện cho anh, nhắc lại thời gian và nói: “7giờ15 em cho xe sang đón”. Anh lưỡng lự một chút rồi bảo: “À thôi… tớ có xe rồi!”. Tôi nghĩ anh là sếp, đi đâu chả có xe đưa đón?
Khoảng bảy giờ tối, khi học viên đang tục tục vào hội trường thì tôi thấy chiếc xe máy Java của anh Lê Ngọc Ban, Trưởng phòng Tổ chức sở VHTT, đèo anh Nông Trung sang. Tôi bất ngờ vì anh không đi ô tô cơ quan. Tôi mời hai anh vào phía sau cánh gà thì anh Ban từ chối: “Xin phép thầy, tôi cũng là học viên, để tôi ngồi ngoài này nghe …”. Trong khi chờ đến giờ lên bục tôi rót trà mời, anh Trung bảo: “Tớ có uống chè đâu!”. Tôi lúng túng, đành rót nước sôi ở phích ra chén mời anh. Bóc bao Điện Biên, anh xua tay: “Mình không biết hút thuốc”. Tôi định bật chai bia thì anh ngăn lại: “Mình không uống bia rượu khi làm việc”. Hồi ấy đón khách như thế là lịch sự lắm rồi. Thế mà những thứ tôi tâm đắc để thể hiện sự quý trọng đối với anh đều chả còn nghĩa lý gì!…
Sau buổi đầu gặp gỡ ấy, tự nhiên tôi thấy quý mến anh và hẹn “hôm nào em sang chơi!”… Một buổi tối, tôi sang nhà anh. Tôi đạp xe đến Km 6 rồi dắt ngược lên cái… “dốc khổ”, vào khu tập thể Sở VHTT và đến thẳng cái gian nhà gia đình anh ở. Đúng giữa lúc mất điện, cảnh vật tối om. Tôi gọi to: “Anh Trung ơi !”… Thấy tiếng vọng lên từ một gian bếp lụp sụp gần đấy : “Dương hả? Chờ tí, tớ và nốt miếng cơm rồi lên ngay!”. Vài phút sau, tôi thấy anh còng lưng chui ở bếp ra, tay trái cầm cái đèn dầu, ngọn lửa đỏ quạch, tay phải cầm chiếc quạt giấy. Lưng anh địu đứa trẻ bằng cái địu thêu hoa văn thổ cẩm Giáy. Anh vừa xóc xóc cái địu vừa nói: “Vào đây, vào đây!…” và dẫn tôi vào phòng. Gọi là phòng, chứ chỉ là một gian nhà cấp bốn dành cho cả gia đình hai vợ chồng, ba bốn đứa con nhỏ của ông Giám đốc sở.
Trong phòng chỉ có cái giường đôi rộng mét rưỡi và cái giường đơn 80 phân trải chiếu cói là nổi bật, chiếm gần hết diện tích. Thấy tôi loay hoay chưa biết ngồi chỗ nào, thì anh đặt cái đèn dầu xuống cái bàn làm việc nhỏ xíu kiêm bàn uống nước kê sát vách, vứt cái quạt giấy lên giường rồi vẫn khom lưng như thế, hai tay bê cái ghế đẩu cũ duy nhất ở góc phòng ra bảo tôi ngồi. Tôi đang lưỡng lự thì anh bảo: “Cậu ngồi xuống đây! Mình vướng thằng cu không ngồi được, phải địu cho cô Sin ăn xong còn dọn bát đĩa…”. Nhớ có lần tôi được nghe anh em bên Sở kể, tiếng là giám đốc, nhưng sáng ra, mặt giời còn chưa mọc, hôm nào “bố ấy” cũng khệ nệ bê cái chậu to đoành đựng đầy quần áo, cooc sê của vợ, tã lót của con ra bờ suối ngồi hàng giờ…
Sau cuộc trò chuyện đó khoảng nửa tháng, đùng một cái như tiếng sét đánh ngang tai, tôi nghe tin anh Nông Trung đột ngột ra đi!… Anh mất trong một tai nạn hy hữu khi đi công tác kiểm tra tình hình biên giới, sau những ngày vừa nổ ra “chiến sự 17 tháng Hai”. Nghe tin dữ, tôi chỉ biết ngồi khóc!…
Nông Trung (tức Nông Văn Ngân), sinh năm 1936, dân tộc Giáy, quê Giang Đông, xã Vạn Hòa, Bảo Thắng, Lào Cai. Tháng 3/1949, giữa “cuộc kháng chiến trường kỳ”, vừa tròn 13 tuổi anh đã tham gia Cách mạng (thiếu sinh quân), làm Đội viên Đội Tuyên truyền Văn nghệ Ty Thông tin Lào Cai. Trong thời kỳ công tác ở Lào Cai, Nông Trung liên tục vừa làm vừa học, từ kiến thức phổ thông đến tốt nghiệp Đại học Văn, Sử, chuyên ngành nghiên cứu Dân tộc học. Anh từng là Ủy viên UBHC tỉnh Lào Cai. Năm 1976, khi sáp nhập tỉnh, anh làm Phó trưởng ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, sau đó làm Phó Giám đốc, rồi Giám đốc sở VHTT tỉnh Hoàng Liên Sơn.
Tác giả Hoàng Việt Quân đã liệt kê hàng trăm tác phẩm tiểu luận, dịch thuật, sáng tác truyện, ký, thơ… của Nông Trung đã xuất bản và đăng rải rác trong các ấn phẩm từ những năm 50 đến khi qua đời. Nhưng nhiều nhất là những tác phẩm nghiên cứu về Văn hóa dân tộc ở Lào Cai, Yên bái… Đặc biệt, tôi có nghe anh em bên sở nói, anh Nông Trung có một Công trình Nghiên cứu Dân tộc học rất hoành tráng. Phút lâm chung, anh nói với chị Sin: “Khi nào gia đình mình gặp khó khăn quá thì em đưa tập bản thảo của anh cho bác Chấn (2), nói bác cho xuất bản, nhuận bút chắc cũng được một vạn” (3)… Nhưng sau khi anh mất, chị Sin quá đau buồn, mặt khác theo phong tục tập quán, tất cả những bản thảo của anh, gia đình đã đem hỏa táng cho đi theo hương hồn người đã khuất!…
Trong giới văn nghệ sĩ Lào Cai, sau Nhà báo, Nhà văn, Liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết hy sinh trên chốt Tả Ngải Chồ, Mường Khương trong dịp 17/2/79, thì Nông Trung, Nhà nghiên cứu Văn hóa, là Liệt sĩ thứ hai trong trận tuyến này. Anh đã bỏ mình trên đường đi làm nhiệm vụ, khi chưa dứt tiếng súng ở biên giới! Đó là ngày 26/7/1980, khi anh vừa tròn 44 tuổi, tài năng đang nở rộ!
Chú thích:
(1) Năm 1976, 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ sáp nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn.
(2) “bác Chấn”: ông Nông Quốc Chấn, lúc đó là Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin.
(3) “Một vạn”: 10.000 đồng, bằng 167 tháng lương của tôi hồi đó (60đ/tháng).
(4) “Lao Cai”: là tên tỉnh trước khi sáp nhập vào Hoàng Liên Sơn (1976). Chỉ sau khi tái lập tỉnh (1991) mới gọi là Lào Cai.
×

































Speak Your Mind