Tôi thấy tự do qua những dòng chữ cũ trên giấy in đã vàng màu thời gian. Đó là loại tự do viết từ hàng triệu tấm bằng Tổ quốc ghi công, như của ông Ngoại. Tôi thường hỏi mẹ về sự hy sinh của ông. Đáp lại tôi là cái xoa đầu thật khẽ. Mẹ bảo ông ngoại chưa bao giờ mất đi, bởi ông đã cùng mảnh đất quê hương hòa trộn làm một. Đất nước còn, thì ông cũng chẳng bao giờ mất. Tôi ngó phía bàn thờ, nơi chẳng có một tấm ảnh thờ sau cuộc chiến tranh khốc liệt, chợt nghĩ về hàng triệu chiếc bàn thờ trên khắp dải đất Việt Nam, cũng giữ khói nhang thờ phụng một bóng hình mờ căm trong kí ức.

… Như hàng triệu gia đình liệt sĩ khác
Tháng sáu vừa rồi, trong một chiều nhạt nắng, bên khung cửa trông ra của bệnh viện. Mẹ ngồi trên xe lăn, trên tay là tờ giấy chỉ định các hạng mục khám để xét duyệt “khuyết tật” cho chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Lần này khám kĩ hơn, và xét cả lí lịch, bởi mẹ được xếp vào diện con liệt sĩ. Mẹ ngẩn người hồi lâu, rồi nhìn tôi, khẽ nói: “Hy sinh mấy mươi năm rồi mà ông ngoại của con vẫn phải nuôi mẹ lúc ốm đau xế chiều”. Cái thẻ BHYT mẹ đang dùng để khám bệnh, phẫu thuật, cũng được cấp theo chế độ là con của liệt sĩ. Ông ngoại mất sớm, nhưng trách nhiệm của người cha vẫn thực hiện tròn đầy theo một cách đặc biệt. Tôi thấy mắt mẹ hoe đỏ, chợt lòng cũng xót xa.
Mẹ mở tập tài liệu, vuốt ve bảng trích lục hồ sơ liệt sĩ của ông ngoại, giọng trầm buồn. Ông nhập ngũ ngày 23/9/1963, tham gia chiến trường chống Mỹ, lời hẹn trở về khi hòa bình chợt dở dang khi chỉ bốn tháng sau thì ông hy sinh. Lúc ấy mẹ mới bốn tuổi, gương mặt người cha cũng mơ hồ quên nhớ. Tấm ảnh duy nhất ông lưu lại cũng bị cháy trong một lần giặc ném bom sập nhà. Mẹ tôi là đứa con đầu, sinh ra trong tình yêu và sự mong chờ của cha mẹ, cũng là đứa con còn sống duy nhất của ông ngoại. Cậu tôi mất khi mới biết đi lẫm chẫm, trong một cơn sốt cao ở điều kiện thiếu thốn thuốc men. Ngày còn chưa về miền cò trắng, ngoại thường thủ thỉ rằng cậu giống hệt ông ngoại. Trong những tối nhớ ông ngoại tới quay quắt, khi thấy bọn bạn có ba đưa đi chơi, mẹ bảo mình hay nhìn mặt cậu thật lâu để mường tượng, để ghi nhớ. Biến cố ập đến đưa cậu về cùng ông ngoại, thời gian thoi đưa, giờ đến thứ mơ hồ ấy cũng chẳng còn loạng choạng trong kí ức của mẹ nữa. Mẹ thường nói, ông ngoại và cậu đều rất đẹp trai. Là những người đẹp nhất, tốt nhất trong lòng mẹ. Dứt lời, mắt mẹ lại hoe đỏ. Đến cái đẹp cũng trừu tượng quá đỗi, khi tình thương và nỗi nhớ người thân chỉ đành gửi lại cho cánh chim trời.

Mẹ tôi vốn nhiều bệnh, mấy mươi năm nay đã chẳng thể đi lại như người bình thường. Sau khi ba tôi mất đột ngột trong một chuyến biển, mẹ lại càng yếu đi. Vì thế, ngày mà chúng tôi mới chỉ là những đứa trẻ, nguồn chi tiêu hạn hẹp của mẹ đa số dựa vào số tiền hỗ trợ gia đình liệt sĩ. Không nhiều, nhưng mỗi lần thấy mẹ cầm giấy mời của xã để lên nhận quà, tôi đều thấy nụ cười đọng ướt mắt mẹ. Sau này khi mẹ không thể đi lại được nữa, tôi thay mẹ đến dự lễ và nhận quà. Đưa tận tay mẹ hộp bánh ngọt ngày tết, thùng mì hay bịch gạo nếp hương, hoặc có khi là phong bì vài trăm ngàn để hương khói thờ phụng liệt sĩ, mẹ đều trầm ngâm thật lâu, tay run run vuốt ve phần quà được đổi bằng xương máu của ba mình. Mẹ bảo, nếu đổi lại được sự sống cho ông ngoại, mẹ tình nguyện không nhận những loại chính sách ấy. Nhưng, có bình yên nào mà không xót xa? Hòa bình có được bây giờ, bắt buộc phải trải qua hy sinh và vô vàn giông tố…
Những hôm trở trời, mẹ thường đau nhức xương khớp tới mất ngủ. Giữa cơn chập chờn mơ tỉnh, mẹ thường mơ thấy ông ngoại. Bóng hình ông ẩn trong sương, mờ căm khuôn mặt, nhưng lời dạy dỗ lại vẳng tới rõ ràng. Rằng tại sao không biết lo cho sức khỏe, trời lạnh rồi chẳng biết mang tất chân. Rằng sao mà bướng bỉnh cứng đầu, vì tiết kiệm mấy đồng tiền mà chẳng dám mua thuốc thang bồi bổ. Tôi nằm bên, nghe mẹ mớ ngủ ú ớ. Tỉnh dậy thì mẹ òa khóc như đứa trẻ lạc đường về nhà. Mẹ nắm tay tôi kể về cơn mơ, rồi lọ mọ chống nạng đi ra bàn thờ của ông ngoại để thắp mấy nén nhang ấm. “Con xin lỗi ba. Để ba hy sinh lâu rồi còn chưa được an yên, mà vẫn còn phải nhọc lòng lo lắng…”. Tôi nghe mẹ lẩm bẩm khấn, giọng nghẹn đặc như có bao nỗi niềm chắn ngang cuống họng. Những lời muốn nói hay chưa nói, đều thông qua làn khói nhang cùng bóng đèn dầu lập lòe, gửi đến thế giới bên kia. Nhìn mẹ đầu đã điểm sương bạc, lại ngó cái bằng Tổ quốc ghi công trên bàn thờ ông ngoại, giây phút đó, nói không xót xa, thì lại giả dối quá.
Bao nhiêu năm nay, mẹ luôn tự hào khi có người cha là chiến sĩ cách mạng. Mẹ nói, ở thời cuộc lúc đó, trước khi làm cha, ông ngoại phải làm một người dân yêu nước. Sự hy sinh của ông ngoại cùng hàng triệu thanh niên thời ấy, đã đổi lại bầu trời sạch bóng khói bom cho vô vàn đứa trẻ như mẹ.
Đất nước còn, thì ông chẳng bao giờ mất
Gấp tập hồ sơ, mẹ đăm chiêu nhìn ngoài cửa sổ thật lâu. Đôi mắt vốn mờ dần vì bệnh tật, nay sáng rực như chứa ngàn vì sao. Tôi hỏi mẹ nhìn điều gì mà chăm chú thế? Bà ấy chỉ xuống con đường cạnh bệnh viện, với dòng xe cộ hối hả. Môi bà nhoẻn cười, nhẹ giọng bảo, tự nhiên thấy yêu mảnh đất này quá đỗi. Tôi cũng chồm người nhìn sang, thấy bao nhiêu sinh cơ đang dần nảy nở. Có lẽ, mẹ yêu nó bởi giữa bao nhiêu hạt cát vô danh kia, có dáng hình của ông ngoại bên dưới, cũng nên.
Tôi thấy tim mình chợt nóng, khóe mắt khẽ cay. Phải chăng bởi lớn lên từ điều nghe, thấy đậm màu lịch sử, lòng yêu nước trong tôi như một sự kế thừa. Dòng máu của một thế hệ anh hùng và sẵn sàng hy sinh, đã khắc sự biết ơn vào trái tim và khối óc. Tôi chợt nhận ra một trọng trách được trao gửi cho thế hệ trẻ chúng tôi. Trách nhiệm giữ nền tự do đã có, và phát triển một Việt Nam hùng cường.
×






























Speak Your Mind