* Bài viết của một giáo viên được đăng tải trên trang QQ (Trung Quốc)
Bốn năm trước, con gái đang học đại học bất ngờ gọi cho vợ tôi, nói rằng không chịu nổi nữa, cảm xúc gần như sụp đổ.
Qua điện thoại, vợ tôi cảm nhận được sự bất lực, sợ hãi, thậm chí cảm giác vô nghĩa về sự sống nơi con. Tôi vừa không tin nổi vừa hiểu ngay mức độ nghiêm trọng. Nhận cuộc gọi xong tôi rất lo. Định nhờ người bạn ở Thượng Hải đến trường xem tình hình, nhưng thời điểm đó dịch bùng phát, người ngoài không thể vào trường. Sau đó, cô vấn gọi đến báo: kiểm tra ở bệnh xá trường cho thấy con bị trầm cảm nặng và lo âu nặng.
Lúc đó tôi đang công tác xa, khó đi ngay. Vợ tôi lập tức mua vé máy bay đến trường, đưa con về nhà. May mắn là nhờ công việc trước đây, tôi và vợ cũng đã biết một số kiến thức cơ bản về trầm cảm, về nghỉ học tạm thời… Nhìn lại, đó là điều đúng đắn đầu tiên chúng tôi làm lúc ấy.

Ảnh minh hoạ
Sau khi con về nhà, tôi hỏi thêm bạn bè hiểu về trầm cảm, kết nối những nguồn lực y tế tốt nhất có thể. May là con phối hợp, bắt đầu dùng thuốc theo chỉ định, trước tiên xử lý các phản ứng cơ thể nghiêm trọng.
Cho con tự do cũng không hẳn là tốt
Tôi chịu ảnh hưởng sâu của tư tưởng giáo dục tự do, không muốn can thiệp quá mức vào đời con. Từ lúc con vào đại học, hai cha con ít liên lạc; con cũng hiếm khi gọi về. Hàng loạt ý nghĩ dồn dập: Vì sao con lại có những suy nghĩ ấy? Rốt cuộc đã xảy ra điều gì?
Có lẽ mọi thứ đã sớm có dấu hiệu. Tôi bắt đầu nhớ lại những manh mối trước đó.
Trước khi con mắc trầm cảm, tôi đã quan tâm đến chủ đề “trầm cảm vị thành niên”. Năm 2017, tôi rời trường công lập để khởi nghiệp, tiếp xúc với nhiều tổ chức giáo dục đổi mới ở Thành Đô, đón nhận những bạn trẻ không thích nghi với hệ thống, tự nguyện hoặc bị động nghỉ học.
Khi ấy, tôi chỉ coi “trầm cảm vị thành niên” là một hiện tượng của ngành giáo dục, là đề tài cần nghiên cứu. Tôi phê phán hệ thống giáo dục, phê phán phụ huynh, đứng ngoài sự việc, thậm chí có chút ưu thế tinh thần, bởi tôi chưa từng nghĩ điều ấy sẽ xảy ra với chính gia đình mình, với con gái mình.
Nửa đầu đời, tôi dạy Ngữ văn 12 năm, từng sáng lập hai trường tiểu học công lập và làm hiệu trưởng; sau khi khởi nghiệp, tôi tư vấn thiết kế văn hóa cấp cao cho tiểu học, THCS, THPT và cả trường nghề. Tôi luôn được coi là “người giáo dục thành công”. Về giáo dục con, tôi cũng rất tự hào.
Từ tiểu học đến THPT, chúng tôi không cho con học thêm, cũng không đòi hỏi điểm số quá cao. Mô hình “kiểm soát cao – kỳ vọng cao” thường thấy trong gia đình nhà giáo không tồn tại ở nhà tôi.
Thật ra, làm vậy không hề dễ. Trẻ xung quanh từ tiểu học đến THCS, THPT đều học thêm; nếu không, sẽ khó theo kịp, không hiểu thầy cô giảng. Tôi thì nghĩ nội quyển vô nghĩa. Một đứa trẻ trí tuệ bình thường, thể chất – tinh thần khỏe mạnh, chỉ cần có thói quen học là sẽ học được.
Cả nhà tôi đều làm giáo viên, tạo được môi trường đọc tốt, con từ nhỏ “ngâm” trong sách, tầm nhận thức trưởng thành hơn bạn cùng lứa.
Thực tế chứng minh: tôi không kỳ vọng con thành “học bá”, nhưng con vẫn đỗ vào trường THPT tốt nhất thành phố với vị trí nhất lớp, rồi vào một trường đại học tốt. Con luôn là kiểu “không khiến người lớn phải lo”. Tự giác học, cũng không lộ ra vấn đề tâm lý nào.
Nguyện vọng đại học con tự chọn; tôi chỉ trao đổi qua một chút theo quan sát của mình. Trong mắt tôi, đời người chịu tác động của nhiều yếu tố ngẫu nhiên, không thể cưỡng cầu. Con giỏi — tôi biết ơn; con không giỏi — tôi cũng không sao.
Thậm chí tôi từng nghĩ: đợi con tốt nghiệp, tôi sẽ viết một cuốn sách về giáo dục gia đình để nói với mọi người: “Thấy không, tôi không ‘chạy theo thế giới’, không thỏa hiệp, mà con tôi vẫn xuất sắc.”
Căn bệnh bất ngờ của con đánh sụp toàn bộ sự tự tin tôi xây dựng trong giáo dục suốt nửa đời.
Con của một gia đình “không ép con” vẫn không thể thoát khỏi bi kịch
Vậy vấn đề ở đâu? Tôi nghĩ về nguyên nhân con đổ bệnh. Giờ nhìn lại, cái “không làm gì” của tôi có thể khiến con bối rối.
Từ lớp 8, môn Toán của con bắt đầu đuối. Vì từ nhỏ chúng tôi gieo cho con quan niệm “không học thêm”, nên con cũng không muốn theo bạn đi học thêm. Tôi tự vào “cứu”, dùng công cụ trực tuyến, cùng con phân tích tư duy làm bài. Hai tháng sau, điểm Toán tăng nhanh.
Nhưng vừa vào THPT, bài kiểm tra Toán đầu tiên con đứng thứ 5 từ dưới lên. Đề toàn vượt chuẩn hoặc toán nâng cao dạng Olympic.
Tôi đoán con rất thất bại, đó là điều đáng sợ nhất. Chủ nhiệm đôi khi còn mỉa mai công khai: “Không có đầu óc tự nhiên” (ý kém năng khiếu khối A). Đó là điều con ghét nhất khi ấy. Tôi thấy tâm trạng con tệ, nhưng vẫn không cho con đi học thêm, mà tiếp tục nhờ công cụ trực tuyến giải quyết.
Thời gian ấy, con tự mình gánh áp lực khổng lồ; còn sự hỗ trợ từ tôi không đủ.
Tôi còn khuyên con “thông cảm” cho thầy cô: “Thầy cô áp lực rất lớn, họ làm vậy vì không biết cách khác.” Giờ nghĩ lại, tôi ân hận. THPT, thời gian cho Toán chiếm hơn 50%; Văn/Anh gần như không cần cố. Có lúc con học Toán đến 1–2 giờ sáng, rồi ngủ gật trong các tiết khác.
Khi ấy, tôi còn “giải áp” cho con: “Bố học trường đại học bình thường thôi, nhưng vẫn làm việc ổn. Con chỉ cần cố chút, không thể kém bố đâu”.
Nếu cho tôi chọn lại, tôi sẽ dùng cách đúng để giúp con vượt “dốc”. Ở môi trường nội quyển, nếu không muốn chạy, tốt nhất là rời khỏi đường chạy. Còn đã ở trên đường chạy, dù nói “mọi người cứ chạy, tôi không chạy”, bạn cũng có thể bị xô ngã.
Lên đại học, con vốn muốn học Luật, nhưng “đỗ trước” (đợt sớm) vào Kinh tế. Kinh tế cần nhiều môn Toán cao cấp; với ký ức Toán THPT đầy đau khổ, con không còn học nghiêm túc nữa. Các môn khác rất tốt, chỉ riêng Toán là trượt từ năm 1 đến năm 3. Cộng thêm thời kỳ dịch, trường phong tỏa, sinh viên bị nhốt trong ký túc, áp lực đè nén đến mức nghẹt thở.
Đó là lý do duy nhất tôi có thể nghĩ ra. Con có chí, cầu toàn; “tâm thế học sinh giỏi” khiến con không chấp nhận nổi việc mình bị trượt.
Tôi tự hỏi mình sai ở đâu. Từ trước, tôi coi trọng nhận thức, nguyên tắc, nhưng xao nhãng xây dựng quan hệ. Giao tiếp giữa tôi với con chủ yếu là trao đổi thông tin, thiếu kết nối cảm xúc khiến tôi bỏ lỡ thay đổi bên trong của con.
Thêm nữa, cái “thả cho lớn” của tôi có thể tạo áp lực cho vợ. Dù định hướng giáo dục thống nhất, nhưng vợ nghiêm khắc hơn. Việc học của con chủ yếu do mẹ quản; sự “thả” của tôi lại đẩy gánh lo sang cho vợ — vợ lo tương lai của con nên càng dễ lo âu và kiểm soát.
Tuy vậy, tôi tự nhắc: Đừng tự trách, đừng vội tìm lỗi của mình hay của môi trường. Hãy nghĩ giải pháp trước. Nghĩ “làm sao bây giờ”, chứ không mải miết “vì sao”. Đó là bước đầu tiên thoát khỏi vòng xoáy. Bởi bất kể nguyên nhân là gì, khi con rơi vào khủng hoảng, ngoài cha mẹ, không ai gánh thay. Chúng tôi là điểm tựa duy nhất giúp con bước qua.
Tiếp nhận trọn vẹn là cùng đứng trong bóng tối với con
Từ khi con đổ bệnh, hiểu biết của tôi về trầm cảm trở nên rõ ràng. Ban đầu, con nằm bẹp ở nhà đúng nghĩa: mấy ngày liền không rời giường, nằm xem điện thoại. Ngày nào cũng không tắm, cơ thể bốc mùi. Đồ ăn tôi nấu con không muốn ăn. Có khi gọi đồ ngoài, thậm chí cũng không ăn.
Lo âu không giúp gì. Tôi và vợ bắt đầu học có hệ thống, đăng ký các khóa xã hội học, tâm lý học trực tuyến. Bước đầu tiên để đi ra: tiếp nhận vô điều kiện. Từ “tiếp nhận” ai cũng nghe, nhưng biết khác làm. Tôi cho rằng tình yêu vô điều kiện gần như bất khả, nó là tiến trình tiệm cận vô hạn.
Chúng tôi cố cho con nhiều tự do hơn: muốn ăn lúc nào thì ăn, không muốn cũng được; muốn ngủ đến mấy giờ thì ngủ; không gọi dậy, không bắt phải tắm mỗi ngày. Để con cảm nhận vẫn được quan tâm, chúng tôi mời con ra ăn cùng, nhưng không ép. Điều này rất khó. Tôi lo, vợ tôi còn lo hơn. Tôi vừa tự điều chỉnh, vừa xoa dịu cảm xúc của vợ.
Con dùng thuốc rồi tăng cân, vẫn gọi đồ ngọt. Vợ không chịu nổi; bác sĩ cũng khuyên hạn chế đường. Tôi nói với vợ: đừng quản con ăn gì. Con vẫn sống, vẫn có thể tự ăn, tự tắm, mỗi ngày ta nên biết ơn.
Sau khi con mắc trầm cảm, cha mẹ phải điều chỉnh kỳ vọng. Con đường cũ con muốn đi chưa chắc còn phù hợp. Với tôi, buông kỳ vọng không khó. Khó là con rất cầu toàn, tôi cần giúp con buông kỳ vọng của chính con.
Tôi và vợ thiết lập ranh giới: không vẽ viễn cảnh, không đặt mục tiêu, hạ toàn bộ kỳ vọng.
Tất nhiên, làm được vậy còn nhờ khả năng tài chính. Khi ấy, tôi nghĩ: kể cả sau này con không đi làm, tôi cũng phải dễ dàng nuôi được con. Mục tiêu của tôi là cố gắng kiếm tiền, để con có thể nằm yên nếu muốn. Suy nghĩ này cởi trói cho cả tôi và con. Tôi tự nhủ: chỉ cần con sống bình an, mỗi ngày tôi đều cảm ơn.
































Speak Your Mind