Di sản phải được “kích hoạt” để trở thành nguồn lực phát triển kinh tế
Báo điện tử Dân Việt vừa tổ chức Tọa đàm trực tuyến “Góp ý vào Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng” với chủ đề “Kiến tạo khát vọng Việt Nam hùng cường” với nhiều ý kiến giá trị từ các chuyên gia, nhà quản lý vào sáng 11/11.

Trong buổi tọa đàm, Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam – người rất tâm huyết với sự nghiệp phát triển và chấn hưng văn hóa nhấn mạnh rằng, Đại hội Đảng lần thứ XIV là một đợt sinh hoạt chính trị quan trọng và Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV nhận được sự quan tâm của các tầng lớp trí thức và quần chúng nhân dân, điều đó thể sự quan tâm của toàn dân đối với sự kiện chính trị quan trọng này.
Điều này cũng thể hiện trách nhiệm của công dân trong việc đóng góp ý kiến cho Đảng. Đồng thời cũng thể hiện sự lắng nghe, sự cầu thị của Đảng trong việc ghi nhận tiếng nói của các tầng lớp nhân dân.

Từ nền tảng tư tưởng đó, trong Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV có đề cập đến vấn đề “Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản”, Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh cho biết, dự thảo Văn kiện đã lần đầu tiên sử dụng khái niệm “Kinh tế di sản” như một hướng đi chiến lược, coi di sản văn hóa không chỉ là tài sản tinh thần mà còn là “nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội”.
“Kinh tế di sản là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam và cũng lần đầu tiên được đề cập đến trong Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng. Theo tôi, kinh tế di sản là việc khai thác, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) theo hướng tạo ra giá trị kinh tế – xã hội bền vững, nhưng không làm mất đi giá trị văn hóa cốt lõi.

Tức là, di sản không chỉ được bảo tồn để ngắm nhìn, mà còn được “kích hoạt” để trở thành nguồn lực phát triển kinh tế”, Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh nhấn mạnh.
Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh lấy ví dụ rằng, du lịch văn hóa gắn với các hoạt động thăm làng cổ, lễ hội, di tích, phố cổ, di sản đã được UNESCO ghi danh hoặc du lịch tại các làng nghề truyền thống (gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, mộc Đồng Kỵ…). Ngoài ra, nghệ thuật dân gian (ca trù, quan họ, hát xoan, chèo, bài chòi…) được khai thác trong du lịch, truyền thông và công nghiệp văn hóa.
Đặc biệt, các sản phẩm OCOP (mỗi xã một sản phẩm) gắn với câu chuyện về văn hóa địa phương, về đất và người sản sinh ra sản phẩm đó… cũng là một cách để làm du lịch và phát triển kinh tế di sản.

Để kinh tế di sản cũng trở thành một ngành có thể mang lại những giá trị kinh tế như công nghiệp văn hóa, Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh nhấn mạnh đến việc phải quan tâm đến một số vấn đề có tính trọng tâm.
Cụ thể, phát triển kinh tế di sản là sự kết hợp giữa bảo tồn và khai thác hợp lý, đưa giá trị văn hóa truyền thống vào chuỗi giá trị của nền kinh tế hiện đại. Mục tiêu là biến giá trị văn hóa thành sức mạnh mềm và động lực phát triển bền vững, góp phần xây dựng “nền kinh tế văn hóa”. Đồng thời, chuyển đổi số trong di sản (số hóa dữ liệu, trưng bày ảo, du lịch metaverse, nền tảng quảng bá số…) giúp di sản tiếp cận công chúng rộng hơn.
Khi văn hóa được đặt đúng vị trí Việt Nam sẽ tạo nên “sức vươn phù Đổng”
Chia sẻ bên lề buổi tọa đàm, khi đề cập đến việc phát triển mạnh mẽ công nghiệp văn hóa, Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh cho rằng, trong thời đại toàn cầu hóa, sức mạnh của một quốc gia không chỉ đo bằng tiềm lực kinh tế hay quân sự, mà còn bởi khả năng lan tỏa văn hóa – “sức mạnh mềm” chạm đến trái tim nhân loại.

Với Việt Nam, việc phát triển công nghiệp văn hóa và chủ động quảng bá hình ảnh, giá trị con người Việt Nam ra thế giới đang trở thành một nhiệm vụ chiến lược, thể hiện tầm nhìn mới về vai trò của văn hóa trong phát triển quốc gia.

“Việt Nam chúng ta là một đất nước có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa rực rỡ. Từ nghệ thuật Tuồng, Chèo, Quan họ, Cải lương, Ví Giặm… đến ẩm thực, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, thời trang… mỗi loại hình đều mang trong mình bản sắc riêng, là chất liệu quý để tạo nên những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ và kinh tế cao.
Khi được đầu tư đúng hướng, những giá trị ấy hoàn toàn có thể trở thành “tài nguyên mềm” giúp nâng cao vị thế Việt Nam trong bản đồ văn hóa toàn cầu, tương tự như cách Hàn Quốc, Nhật Bản hay Thái Lan đã làm”, Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh diễn giải thêm.
Theo Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh, phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sáng tạo, tạo việc làm cho hàng triệu lao động mà còn giúp khơi dậy niềm tự hào dân tộc, bồi đắp bản sắc trong thế hệ trẻ. Quan trọng hơn, đó là cách để Việt Nam kể câu chuyện của mình – câu chuyện về một dân tộc kiên cường, nhân ái, sáng tạo, hiếu khách và đang không ngừng vươn lên hội nhập với thế giới.

Tuy nhiên, để công nghiệp văn hóa thật sự bứt phá, Việt Nam cần một chiến lược đồng bộ từ chính sách, giáo dục, truyền thông đến thị trường. Cần xem các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà làm phim, nhà thiết kế, nhà sản xuất âm nhạc… như những “nhà công nghiệp sáng tạo”, được hỗ trợ bản quyền, được khích lệ đổi mới sáng tạo, được tạo điều kiện để sản phẩm của họ vươn ra thế giới. Song song với đó là phát triển mạnh mẽ ngoại giao văn hóa để mỗi bộ phim, mỗi bản nhạc, mỗi món ăn Việt đều trở thành “đại sứ” quảng bá hình ảnh đất nước.
“Khi văn hóa được đặt đúng vị trí là nền tảng tinh thần, là động lực sáng tạo và là sức mạnh mềm quốc gia thì Việt Nam sẽ không chỉ được biết đến mà còn được yêu mến. Đó chính là “sức vươn phù Đổng” của văn hóa Việt trong kỷ nguyên mới: vươn tầm thế giới bằng chính tâm hồn, bản sắc và khát vọng của dân tộc mình”, Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh nhận định.
×


































Speak Your Mind