Những ngày đi ở đợ và hạt bo bo trong nắm cơm
Mẹ tôi không phải người nhiều chữ, nhưng câu chuyện cuộc đời bà có thể viết thành cả một cuốn tiểu thuyết – không hoa mỹ, nhưng chân thực đến nhói lòng. Mẹ sinh ở một vùng quê nghèo của huyện Xuân Trường (Nam Định cũ), nay đã sát nhập về đất Ninh Bình.
Hết lớp 7, mẹ khăn gói lên Lào Cai làm công nhân mỏ. Mùa mưa, bùn ngập tận ống chân; mùa khô, bụi đỏ như hun mắt. Mẹ vừa làm, vừa trực dân quân, có lần suýt vướng bom của giặc rải xuống. Mẹ may mắn tránh được nhưng có nhiều đồng đội, đồng nghiệp mãi mãi tuổi thanh xuân ở biên giới. Khi nhắc lại, mẹ chỉ cười: “Thời đó ai chẳng thế, sống mà cứ rình nghe tiếng còi báo động còn nhiều hơn tiếng gà gáy.”
Một ngày năm 1977, mẹ gặp bố. Bố là bộ đội đóng quân về Hà Nội chơi, tình cờ gặp mẹ trong nhóm bạn bè. Họ không có “tình yêu sét đánh” như trong phim, nhưng có sự tôn trọng dành cho nhau, như đồng chí, đồng đội và người chung chí hướng sau này. Bố mượn chiếc xe đạp cà tàng, đạp từ Hà Tây cũ về Nam Định, mất đúng hai ngày hai đêm để cưới mẹ. Lễ cưới là vài mâm cơm mượn nồi xoong hàng xóm, một chiếc áo hoa mới mẹ mượn của chị gái.
Mẹ về làm dâu đất Hà Tây cũ, gia đình của bố thời đó nghèo nhất làng. Bà nội có 4 người con, nhưng không đủ cơm nuôi, bố phải đi ở đợ từ nhỏ. Bố được gửi sang nhà khá giả trong làng để chăn trâu, làm ruộng. Buổi tối, bố lén đứng ngoài cửa học lỏm chữ với con trai nhà chủ. Cứ thế, cho đến khi ông được gọi nhập ngũ và cưới mẹ, cuộc đời bước sang một giai đoạn mới.
Sau cưới, bố mẹ chuyển về làm công nhân xí nghiệp gạch. Vì chính sách khi ấy không phân ruộng cho người “có hộ khẩu công nhân”, nên cả nhà sống trong căn nhà tập thể nhỏ hơn căn bếp và nhu yếu phẩm từ đồng lương ít ỏi được cấp. Bữa cơm khi ấy là cơm độn bo bo, canh là những lá rau hái được ven đường, có gì ăn nấy. Nhiều hôm đói không đủ sức gánh những chồng gạch cao ngất ngưởng đi vào cửa lò, người chỉ muốn lả đi. Nhớ lại quãng thời gian đó, mẹ bảo: “Có cái để ăn vẫn là may chán rồi, khi đó đâu đâu cũng đói vì lao động sản xuất tập trung nên năng suất thấp, thực phẩm khan hiếm”.
Năm 1985, mẹ sinh anh tôi, rồi chỉ hai năm sau là tôi. Hai đứa trẻ nhỏ nhít mà túi gạo trong nhà lúc nào cũng rỗng. Còn gì đáng giá, mẹ đều bán sạch để đổi lấy ít gạo nấu cháo loãng cho con ăn. Tem phiếu được cấp, không dám đổi mảnh vải mới, mẹ dành hết đổi thịt mỡ để con có tí đạm. Đêm giao thừa năm 1986, mẹ kể lại rằng thay vì pháo, thứ nổ vang trong lòng bà là tiếng bụng trẻ con khóc đói. Nhưng chính năm ấy, đất nước bắt đầu một hành trình mới… và mẹ cũng vậy.

Chiếc xe đạp, sọt rau và cái lưng cong mãi không thẳng
Năm 1991, một tai nạn ở xí nghiệp khiến mẹ nghỉ chế độ mất sức lao động. Nhiều người tưởng đó là dấu chấm hết, nhưng với mẹ tôi, đó là khởi đầu của một đoạn đời khác. Thời ấy, cơ chế thị trường vừa mở, đất nước bước vào đổi mới. Người ta bắt đầu buôn thúng bán mẹt. Mẹ vay tiền, mua chiếc xe đạp cũ. Yên sau, bà buộc hai sọt tre cân đối hai bên, bắt đầu hành trình “đi buôn”.
Chiều chiều mẹ đạp xe xuống các làng ở sâu trong núi, mua quả mít, mớ rau. Từng bó rau muống được buộc gọn như tết tóc, thẳng hàng như quân đội. Mẹ bảo: “Rau là lính của mình, phải cho nó chỉnh tề mới có giá”. 2h sáng bà lại có mặt ở chợ, mua mua bán bán. Đến trưa về ăn vội, chiều lại đi tiếp mua thóc, bóc vỏ, xay xát, rồi gánh đi bán. Vòng lặp một ngày, một tháng, một năm cứ xoay vần như vậy. Có năm, mùa đông rét cắt da, mưa phùn gió bấc, mẹ ngã xe 3 lần trong một tuần. Cái lưng mẹ bắt đầu cong dần, mãi không đứng thẳng được nữa. Bác sĩ chẩn đoán mẹ bị thoát vị đĩa đệm, không được làm việc nữa. Nhưng lần nào đi khám về, mẹ cũng nói dối: “Không sao đâu”.
20 năm ròng rã, mẹ không bao giờ có ngày nghỉ, kể cả Tết. Có lần tôi hỏi: “Sao Tết nhà mình không gói bánh chưng sớm hơn ạ, cứ đêm 30 mới gói?” Mẹ đáp: “Càng ngày Tết càng dễ buôn bán, nghỉ sớm thì ai nuôi các con? Sách vở đâu tự mọc ra trên bàn”. Tết ở nhà hàng xóm bắt đầu rạo rực từ 23, Tết nhà tôi tối 30 vẫn chưa có gì. Cũng nhờ những gánh rau ấy, hai anh em tôi học xong đại học. Căn nhà từ chỗ chắp vá đã có mái bằng. Xe đạp cũng chuyển sang xe máy, tủ lạnh, ti vi, máy giặt – từng thứ một vào nhà như dấu mốc cho sự đổi thay của gia đình, cũng là sự phát triển của đất nước.
Nhưng đổi thay lớn nhất là khi tôi thấy mẹ lần đầu ngồi xuống ăn cơm đúng bữa, không tất bật, không thở dài. Là khi bà bảo: “Giờ không còn phải dậy lúc 2h sáng nữa, mẹ có thể nghe hết bài hát trên đài mà không ngủ gật”.

Ước mơ được xem duyệt binh 80 năm
Gần đây, mẹ hay kể đi kể lại một chuyện: “Giá mà được xem lễ duyệt binh mừng Quốc khánh 2/9 – kỷ niệm 80 năm ấy. Nhất định mẹ sẽ cầm lá cờ nhỏ vẫy thật cao!”. Mẹ nói bạn bè thời trẻ của mẹ đều nằm lại ở miền biên giới, nào đã ai được thấy lễ duyệt binh mừng độc lập đâu, mẹ phải dự thay cả phần họ. Mẹ không nói “đất nước đổi thay thế nào”, mẹ chỉ nói: “Hồi đó, cái xe đạp là cả một tài sản, giờ mẹ thấy người ta lái ô tô đầy phố. Đất nước đổi thay là đó chứ đâu. Ai cũng từng phải đi từ khó khăn mới có được hôm nay”. Câu chuyện mẹ kể không có những từ như “đổi mới vĩ mô” nhưng chính đời bà là minh chứng cho những điều đó – từ cái bụng đói ngày tem phiếu, đến cái lưng cong vì buôn rau, và giờ là đôi mắt sáng rực khi nhắc đến lễ duyệt binh sắp tới.
Nếu có ai hỏi tôi: “Việt Nam trong bạn là gì?”, tôi sẽ không nói đến GDP hay đô thị hóa. Tôi sẽ chỉ vào mẹ tôi – người phụ nữ 70 tuổi, sống qua thời đổi mới, gánh cả nhà trên một chiếc xe đạp cũ, và vẫn giữ ước mơ: Được vẫy cờ trong ngày lễ 2/9, nhìn đoàn quân đi qua.
Trong lòng mẹ, đất nước không chỉ là bản đồ. Đó là từng bữa cơm bớt đói hơn, từng ngày sống thoải mái hơn, và từng giấc mơ bình dị con cái trưởng thành trong an bình, no ấm.
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh, Báo NTNN/Điện tử Dân Việt tổ chức cuộc thi viết “Việt Nam trong tôi”, nhằm tạo một bức tranh đa sắc về hành trình 80 năm của đất nước – từ ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến một Việt Nam hòa bình, vươn mình mạnh mẽ hôm nay.
Xem Thể lệ cuộc thi tại đây.
×

































Speak Your Mind