
Nhà văn Chu Lai: Văn chương không phải trò chơi chữ nghĩa mà là món nợ thiêng liêng với những người đã hy sinh
Nhà văn Chu Lai với tên khai sinh là Chu Văn Lai, sinh năm 1946 tại xã Hưng Đạo, huyện Phù Tiên (cũ) và hiện tại là xã Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật, cha ông là nhà viết kịch Học Phi, một trong những cây bút nổi tiếng của nền văn học cách mạng. Từ nhỏ nhà văn Chu Lai đã sớm được tiếp xúc với nghệ thuật, những câu chuyện kịch đầy tính chính luận của cha mình, nhưng tuổi thơ ấy không kéo dài vì thời điểm đó đất nước đang chìm trong khói lửa chiến tranh.
Khi vừa bước sang tuổi thanh xuân, ông gia nhập quân đội nhưng lại không chọn con đường nhàn nhã mà trở thành chiến sĩ đặc công trực tiếp hoạt động ở vùng ven Sài Gòn – nơi khốc liệt nhất trong những năm tháng chống Mỹ. Những trận đánh ác liệt, những phút cận kề sinh tử đã rèn rũa một chiến sĩ Chu Lai gan góc, xù xì, nhưng cũng đầy cảm xúc và khát vọng sống.
Cuối năm 1974, ông được dự trại sáng tác văn học của Tổng cục Chính trị, sau đó tiếp tục học tại Trường Viết văn Nguyễn Du khóa một. Từ một người lính đặc công từng sống trong bom đạn, nhà văn Chu Lai cầm bút với vốn sống dồi dào từ thực tế chiến trường.

Sau khi tốt nghiệp, ông công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi hội tụ nhiều cây bút lớn của nền văn học cách mạng. Đây chính là bệ phóng giúp ông chính thức trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, đồng thời là nơi ông khởi đầu hành trình gần nửa thế kỷ gắn bó với đề tài người lính và chiến tranh cách mạng.
Ngay từ những tác phẩm đầu tiên như “Nắng đồng bằng” (1978) hay “Đêm tháng Hai” (1979), nhà văn Chu Lai đã khẳng định được phong cách riêng. Ông không tô hồng chiến tranh hay né tránh sự mất mát, mà viết với cái nhìn chân thực, gai góc để trăn trở về thân phận người lính. Những năm tháng tuổi trẻ lăn lộn trong chiến tranh đã cho ông chất liệu sống vô giá để sau này mỗi trang viết đều thấm đẫm hơi thở của ký ức và sự thật. Có thể nói, nếu không từng trải qua những năm tháng ở chiến trường khốc liệt, sẽ không bao giờ có một nhà văn Chu Lai với phong cách độc đáo, với những cuốn tiểu thuyết bi tráng về người lính và tuổi trẻ.”
Cuộc đời của nhà văn Chu Lai gắn chặt với hai chữ chiến tranh từ những năm tháng làm đặc công giữa Sài Gòn khói lửa cho tới 50 năm sau vẫn chưa thôi viết về những đồng đội đã nằm lại nơi Thành cổ Quảng Trị.

Chia sẻ tại chương trình “Hào quang một thời”, nhà văn Chu Lai đã nói: “Văn chương không phải trò chơi chữ nghĩa mà là món nợ thiêng liêng với những người đã hy sinh tuổi xuân cho hòa bình”.
Năm 1991, tiểu thuyết “Ăn mày dĩ vãng” ra đời lập tức gây tiếng vang lớn. Tác phẩm không chỉ đoạt giải thưởng của Hội đồng Văn học Chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang mà còn được dựng thành phim truyền hình, trở thành hiện tượng trong dòng văn học điện ảnh cùng thời. Trong cuốn sách này, nhà văn Chu Lai đã phơi bày số phận bi tráng của những người lính sau chiến tranh, có người giữ vững phẩm chất, có người trượt dài trước cám dỗ. Cái nhìn thẳng thắn ấy đã khẳng định ông là một trong những nhà văn quân đội dám đi tới tận cùng sự thật.
Hai năm sau, ông tiếp tục gây tiếng vang với “Phố” (1993), tác phẩm đoạt giải thưởng tiểu thuyết của Nhà xuất bản Hà Nội. Khác với “Ăn mày dĩ vãng” tập trung vào chiến trường, “Phố” đưa người đọc về đời sống hậu chiến, nơi những người lính trở lại cuộc sống thường nhật và đối mặt với những thử thách của thời kinh tế thị trường. Tác phẩm này sau đó được chuyển thể thành vở kịch Người Hà Nội và từng gây xúc động mạnh mẽ cho công chúng thủ đô.
Đến đầu thế kỷ 21, nhà văn Chu Lai tiếp tục khẳng định vị thế của mình với hàng loạt tiểu thuyết đồ sộ như “Khúc bi tráng cuối cùng” (2004), “Chỉ còn một lần” (2006), “Hà Nội 2010”… Trong đó, “Khúc bi tráng cuối cùng” tái hiện chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, bước ngoặt lịch sử mở ra Đại thắng mùa xuân. Ông khắc họa số phận những người lính ở cả hai đầu chiến tuyến, tạo nên một bản trường ca vừa dữ dội, vừa nhân văn.
Nhưng có lẽ đỉnh cao nhất trong sự nghiệp của Chu Lai chính là “Mưa đỏ” (2016). Cuốn tiểu thuyết mà chính ông coi như là “đứa con tinh thần cuối cùng” được ấp ủ suốt nhiều năm. “Mưa đỏ” viết về 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị năm 1972, một trong những trận đánh ác liệt và bi hùng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm này đã giúp ông đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2016 và giải A Bộ Quốc phòng 2019, khẳng định vị thế của ông như một tượng đài văn học viết về chiến tranh.

Điểm đặc biệt trong văn chương Chu Lai là ông không chỉ dựng lại chiến trận mà còn đi sâu vào số phận từng con người. Người lính trong tiểu thuyết của ông có thể anh hùng, có thể yếu đuối, thậm chí có lúc tha hóa nhưng luôn chân thật, sống động.
Ông từng nói: “Chiến tranh không dành cho những sự nửa vời, văn học viết về người lính càng phải đi tới tận cùng bản chất con người.” Nhờ phong cách đó, tác phẩm của nhà văn Chu Lai không chỉ được bạn đọc trong nước yêu mến mà còn được các nhà phê bình đánh giá cao về giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử. Ông được vinh danh với Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007, phần thưởng xứng đáng cho hành trình sáng tác gần nửa thế kỷ.
Có thể nói, từ “Ăn mày dĩ vãng”, “Phố”, “Khúc bi tráng cuối cùng” cho đến “Mưa đỏ”, nhà văn Chu Lai đã dựng nên cả một tượng đài văn học về người lính, về chiến tranh và cả thời hậu chiến. Ông không chỉ viết bằng ngòi bút mà bằng cả đời lính của mình, bằng những ký ức không bao giờ phai.
Trong nửa thế kỷ cầm bút, nhà văn Chu Lai luôn tự nhận mình có một món nợ chiến tranh dù đã đi qua những tháng ngày bom đạn ông vẫn không thôi ám ảnh bởi hình ảnh đồng đội đã ngã xuống, ông từng nhiều lần dừng lại ở Thành cổ Quảng Trị và thắp nén nhang cho những người lính đã hòa máu vào dòng Thạch Hãn và lặng lẽ nói: Chúng ta đã sống sót nhưng món nợ với đồng đội chưa bao giờ vơi. Chính cảm giác ấy khiến ông không thể dời bỏ đề tài chiến tranh, dù có lúc văn đàn đổi thay, nhiều cây bút trẻ tìm hướng đi khác, theo nhà văn Chu Lai viết là một cách tri ân. Mỗi tiểu thuyết, mỗi nhân vật là một người lính, một đồng đội, một số phận đã từng hiện hữu ngoài đời.
Hành trình sáng tạo và tác phẩm đỉnh cao “Mưa đỏ”

“Mưa đỏ” là cuốn tiểu thuyết đỉnh cao, mang đậm tính bi tráng. Ý tưởng cho tác phẩm này được nhà văn Chu Lai ấp ủ từ những chuyến đi xuyên Việt cùng người bạn đời Vũ Thị Hồng. Năm nào ông cũng ghé lại Quảng Trị, ngồi lặng hàng giờ trong Thành cổ, để cảm nhận không gian linh thiêng, nơi máu của những người đồng đội đã hòa trong mưa, khiến cả chiến trường đỏ rực. Từ hình ảnh ám ảnh đó, cái tên “Mưa đỏ” ra đời.
Viết “Mưa đỏ” là một hành trình đầy gian nan, tiêu tốn của ông tới ba năm qua nhiều trại sáng tác. Ông từng tâm sự: “Tôi viết cuốn này như thể cuốn cuối cùng của đời mình, tất cả ký ức, tất cả máu thịt, tuổi trẻ tôi dồn hết vào từng trang sách”.
Trong tác phẩm, nhà văn Chu Lai tái hiện toàn diện 81 ngày đêm lịch sử tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Ông khắc họa một tiểu đội lính trẻ, phần lớn là học sinh, sinh viên, đã chiến đấu kiên cường rồi lần lượt ngã xuống. “Mưa đỏ” không chỉ ca ngợi chiến thắng mà còn vừa dữ dội, vừa ám ảnh, vừa nhân văn đến tận cùng. Người đọc không chỉ thấy chiến công mà còn thấy cái giá khủng khiếp của hòa bình, cái giá bằng máu và sinh mạng của cả một thế hệ.
Nhà phê bình Bùi Việt Thắng từng nhận xét, văn chương của Chu Lai thấm đẫm chất sử thi và ngôn ngữ điện ảnh, rất thuận lợi cho việc chuyển thể. Điều này hoàn toàn đúng, khi nhiều tác phẩm của ông đã được dựng thành kịch nói, phim truyền hình và gần đây nhất là phim điện ảnh “Mưa đỏ”.
Với ông, văn chương không phải nghề để mưu sinh mà là cách sống, là phương tiện duy nhất để trả món nợ tinh thần với quá khứ. Chính nhờ phong cách đó, “Mưa đỏ” đã đưa tên tuổi ông vượt lên một tầm vóc khác, không chỉ là nhà văn quân đội mà còn là người ghi chép trung thực của lịch sử, người giữ ký ức của dân tộc.
Con người nhà văn Chu Lai ở đời thường

Ở tuổi gần 80, sau gần nửa thế kỷ cầm bút, nhà văn Chu Lai vẫn giữ cho mình một lối sống phóng khoáng, đôi khi có phần bụi bặm như chính phong cách văn chương của ông. Ai từng gặp ông đều nhớ đến dáng vẻ giản dị, giọng nói sang sảng và cách trò chuyện cuốn hút. Ông có biệt tài diễn thuyết, biến mỗi buổi giao lưu với độc giả thành một “cuộc hội quân” sôi nổi.
Trong đời thường, Chu Lai gắn bó sâu sắc với người bạn đời, nhà văn Vũ Thị Hồng. Họ từng là đồng đội, cùng chung lý tưởng và nên duyên sau chiến tranh. Bà không chỉ là người vợ mà còn là biên tập viên, là độc giả đầu tiên của những bản thảo của ông. Chính sự đồng cảm ấy đã giúp Chu Lai giữ vững ngọn lửa viết suốt nhiều thập kỷ. Dù sức khỏe có phần giảm sút, ông vẫn không chịu ngồi yên, luôn tham gia các buổi giao lưu để nhắc nhở thế hệ trẻ đừng bao giờ quên quá khứ.
“Những tác phẩm của ông đã khắc sâu bài học rằng chiến thắng nào cũng phải trả giá bằng tuổi xuân, bằng máu xương của bao chàng trai, cô gái. Với thế hệ trẻ hôm nay, di sản của nhà văn Chu Lai mang ý nghĩa kép. Một mặt, đó là những trang sử bi tráng giúp họ hiểu rõ hơn về quá khứ dân tộc. Mặt khác, đó còn là lời nhắc nhở phải sống có trách nhiệm, biết trân trọng hòa bình và không được phép vô tâm trước sự hy sinh của thế hệ đi trước.
Nhà văn Chu Lai từng nói: “Văn chương suy cho cùng là để tri ân con người, nếu quên đi đồng đội, quên đi nhân dân thì chủ nghĩa cũng trở nên vô nghĩa”. Đó là triết lý sống và cũng là triết lý viết của ông, một thông điệp nhân văn vang vọng qua từng trang sách.
Ngày nay, khi “Mưa đỏ” bước lên màn ảnh rộng, thông điệp ấy lại lan tỏa mạnh mẽ. Khán giả không chỉ đến rạp để xem một bộ phim mà còn để sống lại ký ức, để hiểu rõ hơn những giọt máu đã nhuộm đỏ Thành cổ Quảng Trị. Đó là sự đồng cảm với điều mà nhà văn Chu Lai đã dồn cả đời để viết: “Đừng bao giờ quên quá khứ, vì quên quá khứ là phụ bạc với chính tương lai”
Toàn bộ di sản của nhà văn Chu Lai đều xoanh quanh một chủ đề, người lính và chiến tranh. Ông viết không phải để tô vẽ, càng không để hoài niệm sáo rỗng mà để nhắc nhở hòa bình hôm nay là cái giá đánh đổi bằng máu và sinh mạng của cả một thế hệ. Thông điệp mà nhà văn Chu Lai gửi gắm, xuyên suốt tác phẩm là người lính không chỉ hiện diện trên chiến trường mà còn mang theo những vết thương dai dẳng trong đời thường. Họ cũng biết yêu, biết đau, gục ngã trước cám dỗ, bằng cách đó ông trả lại sự con người cho hình tượng bộ đội cụ Hồ khiến họ không còn là biểu tượng xa vời mà là những số phận bằng xương, bằng thịt. Có thể nói, hơn nửa thế kỷ cầm bút, nhà văn Chu Lai đã dựng nên cả một tượng đài văn học về người lính và chiến tranh.
×
Theo: Hào quang một thời


































Speak Your Mind