January 24, 2026

Niềm tự tin dân tộc và khát vọng sống tự do của người Việt trong 3 bản Tuyên ngôn độc lập

  • Lần cuối của Huyền 204 và Duy Nhỏ
  • Giải U23 châu Á 2026: Trận chung kết khó đoán
  • BTS thiết lập kỷ lục doanh số mới

  • Những bản Tuyên ngôn độc lập được viết bằng xương máu

    Ra đời vào khoảng thế kỷ X, trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai (1075 – 1077) do Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy, Nam quốc sơn hà được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, đặt nền móng cho ý thức về một quốc gia độc lập có chủ quyền, lãnh thổ. Tại đền thờ Trương Hống, Trương Hát bên bờ sông Cầu, bài thơ thần này vang lên, như tiếng sấm khích lệ tinh thần quân sĩ, hun đúc ý chí quyết chiến quyết thắng giặc thù.

    “Bốn câu thơ mang ý nghĩa đanh thép, khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Đại Việt: Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Dù viết ngắn gọn, xúc tích, tác phẩm này đã trở thành tuyên ngôn bất hủ, khắc sâu trong tâm thức người Việt về một chân lý không thể thay đổi: đất nước có chủ, biên cương có người gìn giữ, mọi thế lực xâm lấn đều sẽ chuốc lấy thất bại” – Tiến sĩ Văn hóa học Hồ Giang chia sẻ với Dân Việt.

    1447127227 nam quoc son ha 1 0744
    Nguyên văn bản dịch bài thơ Nam quốc sơn hà được trưng bày ở Viện Bảo tàng lịch sử. (Ảnh: TL)

    Hơn 4 thế kỷ sau, vào năm 1429, Bình Ngô đại cáo ra đời. Tác phẩm là một bài cáo viết bằng chữ Hán do Nguyễn Trãi soạn thảo, thay lời Bình Định Vương Lê Lợi tuyên cáo về việc giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống nhà Minh, nêu rõ quyền độc lập và tự chủ của Đại Việt trước triều đình phương Bắc.

    Mở đầu bằng việc khẳng định chân lý về nền văn hiến, chủ quyền của dân tộc: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cỏi đã chia/Phong tục Bắc Nam cũng khác”, văn kiện này trực tiếp tố cáo tội ác của quân Minh, thuật lại quá trình kháng chiến gian khổ nhưng anh dũng của quân dân Đại Việt, kết thúc bằng việc tuyên bố nền độc lập, thái bình của đất nước.

    Trong nghiên cứu của mình, PGS.TS Nguyễn Đăng Na nhận định, Bình Ngô đại cáo là tác phẩm văn học chức năng hành chính quan trọng không chỉ đối với lịch sử dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình phát triển văn học sử Việt Nam. Ở tác phẩm này, tác giả đã kết hợp một cách uyển chuyển giữa tính chân xác lịch sử với chất sử thi anh hùng ca qua lối văn biền ngẫu mẫu mực của một ngọn bút tài hoa uyên thâm Hán học.

    nguoihanoi com vn untitled 6b 1 0734
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. (Ảnh: TL)

    Vào ngày 2/9/1945, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Văn kiện này trích dẫn những câu bất hủ từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1789), khẳng định quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam và tuyên bố thoát khỏi ách đô hộ của thực dân, phát xít để trở thành một quốc gia độc lập, tự do.

    Trong cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tác giả Trần Dân Tiên viết về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm này: “Sau khi đọc bản thảo cho những người cộng tác thân cận nghe và hỏi ý kiến họ (đây là một thói quen của Cụ Hồ, hỏi ý kiến để người khác phê bình công việc mình làm), Cụ Hồ không giấu nổi sự sung sướng. Cụ Hồ nói, trong đời mình, Cụ đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản tuyên ngôn như vậy”.

    Nói về ý nghĩa của bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, trao đổi với Dân Việt, GS.TSKH Vũ Minh Giang nhận định: Văn kiện này chính là lời tuyên bố trước thế giới về sự tái sinh của một quốc gia, một dân tộc. Tại mỗi câu văn trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều cho thấy tư duy và trí tuệ sắc sảo.

    Người viết: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”. Lời khẳng định này vừa tranh thủ tối đa những lực lượng ủng hộ mình, vừa thể hiện tính chính danh, vừa hóa giải sức ép từ quân Tưởng”.

    GS.TSKH Vũ Minh Giang cũng nhấn mạnh thêm: “Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố về sự ra đời của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tên gọi của đất nước sau Cách mạng là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nghĩa là theo thể chế cộng hòa, xây dựng trên một nền quyền lực thuộc về nhân dân, gọi là dân chủ. Ba tiêu ngữ để chỉ thuộc tính của chính quyền cách mạng mới là Độc Lập – Tự do (nói tới môi trường xã hội) và Hạnh phúc – thứ chính quyền sẽ đem lại cho người dân. Đây là thuộc tính, tính chất của chính quyền cách mạng nhưng đồng thời cũng là sự cam kết của chính quyền cách mạng đối với nhân dân trong thời đại mới”.

    Niềm tin và khát vọng hùng cường của dân tộc

    Chia sẻ với Dân Việt, GS.TS Phạm Hồng Tung (Trường Đại học Quốc gia Hà Nội) nhân định: “Xuyên suốt cả ba bản Tuyên ngôn là hai tư tưởng lớn. Thứ nhất, dân tộc Việt Nam bình đẳng với mọi dân tộc khác trên thế giới, có quyền tự quyết định vận mệnh của mình, trong đó bao gồm những quyền cơ bản nhất: quyền sống độc lập, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

    Thứ hai, các văn kiện thể hiện rõ ý chí sắt son của toàn dân: Quyết tâm hy sinh mọi sức lực, tinh thần để bảo vệ nền độc lập thiêng liêng. Hai mạch tư tưởng này đan kết chặt chẽ, làm trụ cột cho cả ba bản Tuyên ngôn, từ bài thơ thần vang lên thế kỷ XI, đến Bình Ngô đại cáo thế kỷ XV và Tuyên ngôn độc lập thế kỷ XX”.

    Ở những bối cảnh lịch sử khác nhau, mỗi bản Tuyên ngôn đều phản ánh vị thế của dân tộc Việt Nam trong khu vực và trên thế giới tại thời điểm đó, đồng thời cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức, khát vọng và ý chí khẳng định quyền độc lập dân tộc cùng tự do của mỗi con người. GS Phạm Hồng Tung phân tích: “Ở thế kỷ XI, câu thơ “Nam quốc sơn hà, Nam đế cư” nêu rõ quyền độc lập tự chủ của quốc gia, biểu hiện tập trung ở hình tượng Hoàng đế – đại diện cho toàn dân tộc, với cơ sở chính danh từ “sách trời” – tức quy luật tự nhiên, được khu vực và thế giới thừa nhận.

    Đến thế kỷ XV, Nguyễn Trãi nâng tầm lập luận khi khẳng định Đại Việt là một quốc gia văn hiến, có nền văn minh và bản sắc riêng, đủ tư cách tồn tại ngang hàng với đế chế phương Bắc. Ông viết: “Xét nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác”. Tại đây, Nguyễn Trãi đã đặt nền móng cho tư tưởng độc lập dân tộc không chỉ dựa trên sức mạnh quân sự mà còn trên giá trị văn hóa và truyền thống lâu đời”.

    screenshot 43 0735
    GS.TS Phạm Hồng Tung (Trường Đại học Quốc gia Hà Nội). (Ảnh: TL)

    Năm 1945, khi Thế chiến thứ hai vừa kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cơ sở độc lập của dân tộc trên tầm cao thời đại. Người trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791), với tư tưởng “mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa ban cho những quyền không ai có thể xâm phạm”.

    “Tạo hóa là khái niệm của văn minh nhân loại từ thời Hy Lạp – La Mã cổ đại, được toàn thế giới chấp nhận – nhất là những trào lưu triết học phương Tây, cha đẻ của tất cả các trường phái chính trị, pháp quyền. Cũng bởi vậy, Bác Hồ đã lấy “tạo hóa” làm nền tảng để lập luận về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của người Việt Nam. Việc dẫn chứng hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của thế giới không chỉ tạo bệ đỡ pháp lý quốc tế cho Tuyên ngôn độc lập 1945, mà còn là một đòn “gậy ông đập lưng ông”, buộc cộng đồng quốc tế, trong đó có chính những kẻ từng áp bức Việt Nam, phải thừa nhận quyền chính đáng của dân tộc ta”.

    “Tuy ở những thời điểm khác nhau và cách xa nhau nhiều thế kỷ, nhưng Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập 1945 đều xuất phát từ một chân lý có tính chất cội nguồn của dân tộc Việt Nam, đó là không có gì quý hơn độc lập, tự do” – GS.TS Phạm Hồng Tung nhận định. Các tác phẩm này cổ vũ tinh thần yêu nước, tạo thành một mạch nguồn bền bỉ, xuyên suốt, không có gì có thể lay chuyển qua nhiều thế hệ, tạo thành sức mạnh đoàn kết của những người con đất Việt.

    “Bên cạnh ý nghĩa lịch sử, ba bản tuyên ngôn này mang lại niềm tự tin dân tộc, truyền cảm hứng về khát vọng tự do, hạnh phúc. Dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau, chúng ta đều mang trong mình một niềm tin rằng ta có quyền, có đủ năng lực làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình” – GS Phạm Hồng Tung khẳng định.


    Speak Your Mind

    *